Chương I, Điều 1 của Nghị định số 30/2020/NĐ-CP, ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư, quy định: “Công tác văn thư bao gồm các công việc về soạn thảo văn bản, ban hành văn bản; quản lý văn bản và tài liệu khác hình thành 8 trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức; quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư” [8, tr. Như vậy, có thể xem công tác văn thư là những hoạt động thông tin bằng văn bản nhằm truyền tải, chỉ đạo, lãnh đạo các chủ trương, chính sách phục vụ cho công tác quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức; là toàn bộ các hoạt động về công tác văn thư từ khâu soạn thảo văn bản, hoàn chỉnh, đóng dấu, vào sổ và ban hành văn bản, tổ chức quản lý và giải quyết văn bản hình thành trong hoạt động của cơ quan, tổ chức. Các văn bản, giấy tờ trong quá trình hình thành của công tác văn thư là phương tiện chứa đựng, tuyền đạt, phổ biến, chỉ đạo chủ yếu cho hoạt động của cơ quan, tổ chức đạt hiệu quả. Công tác văn thư là một trong những hoạt động liên tục, thường xuyên trong tất cả các cơ quan, tổ chức và góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, chỉ đạo và hiệu quả công việc cho các cấp lãnh đạo, quản lý.
* Thuật ngữ tổ chức là gì? Tổ chức công tác văn thư là gì? Thuật ngữ tổ chức có nhiều cách tiếp cận: tiếp cận dưới góc độ là một động từ theo giáo trình quản trị văn phòng: “là tạo dựng một môi trường nội bộ thuận lợi để hoàn thành mục tiêu; thiết kế cơ cấu tổ chức và thiết lập thẩm quyền cho các bộ phận, cá nhân; tạo nên sự phối hợp ngang, dọc trong hoạt động của tổ chức” [15, tr. Tiếp cận dưới góc độ là một danh từ theo từ điển tiếng Việt thông dụng: “tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung (tổ chức thanh niên, tổ chức công đoàn). Tổ chức chính trị - xã hội với cơ cấu và kỷ luật chặt chẽ (có ý thức tổ chức, theo sự phân công của tổ chức, được tổ chức tín nhiệm)” [29, tr. Theo quan điểm của tác giả thuật ngữ tổ chức công tác văn thư được tiếp cận dưới góc độ nghĩa của động từ là một hoạt động bao gồm tổ chức một môi trường quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, rà soát, sửa đổi công tác văn thư nhằm sắp xếp và bố trí các công việc, giao quyền hạn và phân phối các nguồn lực để đóng góp một cách tích cực và có hiệu quả vào mục tiêu chung của cơ quan.
Nội dung công tác văn thư Công tác văn thư gồm những nội dung công việc chính sau đây: a. Soạn thảo và ban hành văn bản Để ban hành, phát hành một văn bản thường phải trải qua quá trình soạn thảo gồm những việc như sau: 9 - Dự thảo văn bản - Duyệt văn bản - Đánh máy, sao in văn bản - Ký văn bản để ban hành b. Quản lý và giải quyết văn bản gồm: - Tiếp nhận văn bản, đăng ký vào sổ và chuyển giao văn bản đến. - Vào sổ và chuyển giao văn bản đi.
- Giải quyết văn bản đi, văn bản đến. - Theo dõi quá trình giải quyết văn bản đi, đến. Quản lý và sử dụng các loại con dấu d. Lập hồ sơ công việc và giao nộp tài liệu, hồ sơ đã giải quyết vào lưu trữ cơ quan.
Trong thời đại điện tử ngày nay, công tác văn thư đã bổ sung thêm các bước sau: lấy số văn bản, quét scan văn bản và phát hành văn bản qua thư điện tử hoặc phần mềm văn phòng, điều đó giúp công tác văn thư tiết kiệm được giấy, mực, thời gian và nhân sự đi phát công văn. Công tác soạn thảo và ký ban hành văn bản Soạn thảo, ban hành văn bản là một mảng công việc không thể thiếu và có vị trí đặc biệt quan trọng trong các cơ quan, tổ chức. Trong mỗi cơ quan, tổ chức muốn hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản một cách khoa học, hiệu quả, có nề nếp thì cần trang bị đầy đủ các điều kiện, phương tiện hiện đại cho guồng máy thì tất yếu công việc sẽ chạy đều, quản lý hành chính sẽ thông suốt. Còn ngược lại, sẽ là một rào cản rất lớn đến hiệu quả, năng suất công việc của cơ quan, tổ chức đó.
Nội dung của công tác soạn thảo, ban hành văn bản hành chính được quy định tại Chương II của Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư, trong đó nội dung văn bản và quy trình soạn thảo văn bản qui định chi tiết tại Phụ lục 1 của luận văn này. Khi soạn thảo bất kỳ văn bản hành chính nào, người soạn thảo cũng phải dựa vào đường lối, chính sách của Đảng và căn cứ vào pháp luật của Nhà nước mới có thể soạn thảo và ban hành những văn bản phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, đồng thời phục vụ tốt cho việc thực hiện các nhiệm vụ 10 chính trị của cơ quan, tổ chức. Bên cạnh đó, muốn nội dung văn bản hành chính có chất lượng thì người soạn thảo phải nắm vững nội dung của vấn đề cần văn bản hóa thì mới có thể đáp ứng được các nguyện vọng, phù hợp với các lợi ích chính đáng của mọi đối tượng, tránh được những thiếu sót không đáng có trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Để bảo đảm thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, khi soạn thảo, ban hành văn bản hành chính phải có tính mục đích, phải hướng tới giải quyết những công việc cụ thể có lợi cho toàn cơ quan, đơn vị, phù hợp với lợi ích của xã hội.
Vì cơ quan, tổ chức trong suốt quá trình hoạt động của mình văn bản vừa là phương tiện vừa là công cụ để đạt được kết quả của các nhà quản lý, đồng thời là sản phẩm của quá trình hoạt động. Khi soạn thảo, ban hành văn bản cần phải thực hiện được các yêu cầu cơ bản gồm tính khoa học, tính trang trọng, lịch sự, tính chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, tính phổ thông đại chúng, dễ hiểu, và nội dung văn bản mới soạn thảo, ban hành không trái với các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan cấp trên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn “phải viết phù hợp trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng; chớ ham dùng chữ, những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng,”[16] Nhìn chung, trong các lĩnh vực hoạt động hành chính thì đối tượng thi hành văn bản thường là nhiều thành phần, nhiều người, nhiều tầng lớp, nhiều địa phương; những đối tượng thi hành văn bản này thường cũng có những trình độ cao thấp khác nhau. Vì vậy muốn được tất cả các đối tượng khác nhau đó tiếp cận văn bản thì văn bản phải sử dụng những ngôn ngữ đơn giản, không cầu kỳ, phải dễ đọc, dễ hiểu và các từ ngữ sử dụng phải được hiểu như nhau, các cách dùng từ, cách diễn đạt phải mang tính phổ thông đại chúng.
Để tính phổ thông đại chúng có trong văn bản được thể hiện rõ thì nội dung văn bản cần phải được cụ thể hóa, ngôn ngữ của văn bản diễn đạt phải có tính phổ thông, phải tạo cho tất cả mọi đối tượng tiếp nhận văn bản phải có cách hiểu theo một nghĩa duy nhất. Trong quá trình soạn thảo văn bản hành chính, người soạn thảo chỉ nên sử dụng những từ ngữ chuyên môn khi thật cần thiết, không nên sử dụng những từ ngữ chuyên ngành, những từ ngữ địa phương…, và đặc biệt nếu muốn sử dụng thì phải có sự giải thích rõ ràng. 11 Quy trình soạn thảo văn bản thông thường cần qua các bước công việc cụ thể sau: 1. Xác định mục đích ban hành văn bản; 2.
Xác định tên loại văn bản; 3. Thu thập và xử lý thông tin; 4. Xây dựng đề cương, viết bản thảo; 5. Duyệt bản thảo; sửa bản thảo văn bản; ký văn bản và đăng ký, đóng dấu phát hành văn bản đi.
Công tác quản lý và giải quyết văn bản đi, đến gồm - Tiếp nhận, đăng ký vào sổ công văn và chuyển giao văn bản đến: Tiếp nhận văn bản Phân loại sơ bộ văn bản Bóc bì văn bản Đóng dấu đến lên văn bản đến, vào sổ ghi số và ngày đến của văn bản đến Đăng ký văn bản vào sổ công văn đến Trình lãnh đạo cơ quan, văn phòng (hoặc Phòng Hành chính) Chuyển giao văn bản Theo dõi việc giải quyết văn bản đến - Vào sổ và chuyển giao văn bản đi: Kiểm tra các thể thức, trích yếu nội dung và kỹ thuật trình bày văn bản đi Đăng ký văn bản vào sổ đi (theo từng loại tên văn bản, nếu cơ quan ban hành số lượng lớn), ghi số và ngày tháng năm đóng dấu (hiệu lực của văn bản) Lưu văn bản đi Gửi văn bản đi Theo dõi việc chuyển giao văn bản đi - Giải quyết và theo dõi việc giải quyết văn bản đi, văn bản đến Giải quyết văn bản đi, văn bản đến phải theo đúng trình tự, quy trình và thời hạn giải quyết quy định của cơ quan Theo dõi việc chuyển giao văn bản đi, đến 12 Các công tác nêu trên được quy định tại Chương III của Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư. Nội dung quản lý văn bản thể hiện trong Phụ lục 2 của luận văn. Công tác quản lý và sử dụng con dấu - Trong một cơ quan thường có 2 loại dấu: là con dấu pháp lý (dấu hình tròn, sử dụng mực màu đỏ) và con dấu không mang tính pháp lý. Riêng các cơ sở giáo dục đại học thì có hai con dấu pháp lý gồm con dấu ướt (dấu hình tròn, sử dụng mực màu đỏ) để đóng lên văn bản, văn bằng, chứng chỉ và con dấu khô (dấu nổi, không dùng mực) chỉ đóng trên văn bằng, chứng chỉ.
Con dấu pháp lý: Là con dấu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định khắc và cấp cho cơ quan, đơn vị để sử dụng và đóng vào văn bản, và là thành phần thể thức không thể thiếu được, nó thể hiện giá trị pháp lý của văn bản, thể hiện vị trí của cơ quan ban hành ra văn bản.