CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình phát triển của ngành công nghệ ôtô 1. Trên thế giới Ngành công nghiệp ô tô thế giới đã và đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Tính đến các tháng đầu năm 2021, quy mô thị trường sản xuất ô tô toàn cầu ước tính trị giá 2,7 triệu USD và được mong đợi sẽ đạt 9,7% về mức độ tăng trưởng thị trường sản xuất ô tô thế giới trong năm nay.
Nếu xét cả giai đoạn 2016-2021, tỷ trọng ngành công nghiệp ô tô thế giới đang giảm dần trung bình 1,3% một năm. Đây có thể nói là kết quả do tác động nghiêm trọng của dịch COVID-19 lên toàn cầu trong 2 năm trở lại đây. Về mảng sản xuất phụ tùng ô tô, thị trường sản xuất phụ tùng ô tô toàn cầu đạt giá trị khoảng 380 tỷ USD vào năm 2020. Ngành công nghiệp này dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ CAGR là 3% trong giai đoạn dự báo 2022-2027 để đạt giá trị khoảng 453 tỷ USD vào năm 2026.
Trong đó, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nổi lên như một thị trường quan trọng cho sản xuất phụ tùng ô tô vào năm 2020. Khu vực này cũng được dự đoán là thị trường toàn cầu lớn trong giai đoạn dự báo, chứng kiến tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ. Về xu hướng của nhóm ngành này hiện tại, các nhà sản xuất xe ô tô trên toàn cầu đang chuyển hướng quan tâm về thiết kế ô tô mới. Vấn đề về ô nhiễm môi trường bắt nguồn từ khói bụi của phương tiện vận chuyển đang ngày càng trở nên đáng lo ngại.
Do đó, ngành công nghiệp ô tô thế giới cũng đang hướng tới cho ra mắt những ô tô sử dụng nhiên liệu thân thiện với môi trường như điện. Theo Triển vọng xe điện 2020, sẽ có hơn 500 mẫu xe điện khác nhau được phát triển và ra mắt vào năm 2022 ngay cả khi đại dịch COVID-19 vẫn gây ra nhiều hạn chế và khó khăn. Công nghiệp ô tô thế giới đang phát triển mạnh mẽ. Tại Việt Nam Theo phân tích của chuyên gia, doanh số bán ô tô hàng năm của Việt Nam tăng nhanh từ năm 2015 đến 2019, từ 209.000 chiếc năm 2019, trở thành một trong những thị trường phát triển nhanh nhất thế giới.
Năm 2020, doanh số bán hàng giảm xuống còn 283.983 chiếc do Covid-19, trong khi vào cuối năm 2021, doanh số bán ô tô tăng 2,5% lên 304. Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 sẽ đạt 362,619 tỷ USD, tăng trưởng thực tế là 2,58%. Xét đến sự lan rộng của COVID-19 trong giai đoạn 2020-2021, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm 2% -3% đã là một con số tốt đối với thế giới. Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong những năm qua, nhưng lương năng suất vẫn ở mức thấp, chưa bằng 50% của Trung Quốc và thấp hơn nhiều so với các nước phát triển vào năm 2022.
Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam khởi đầu muộn và nền tảng tăng trưởng còn yếu. Sau cải cách năm 1986, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Năm 1991, chính phủ Việt Nam đã giới thiệu các quỹ nước ngoài để phát triển sản xuất và công nghiệp ô tô. Sau 30 năm phát triển, Honda, 2 Toyota, Ford, GM … đã vào Việt Nam thông qua hình thức sở hữu độc quyền hoặc đầu tư chung.
Họ thành lập công ty lắp ráp ô tô tại Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam thành lập các công ty ô tô trong nước. Theo phân tích của chuyên gia, năng lực sản xuất xe nguyên chiếc của Việt Nam đến cuối năm 2021 ước tính khoảng 755. Có hàng trăm công ty sản xuất phụ tùng ô tô, hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ với năng lực sản xuất thấp và công nghệ thấp.
Sản phẩm chính là các thành phần đơn giản, ví dụ như ghế ngồi, ắc quy ô tô. Do sản xuất ô tô trong nước của Việt Nam còn hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước nên mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu một lượng ô tô hạn chế. Từ năm 2015 đến 2019, nhập khẩu ô tô hàng năm của Việt Nam cũng có xu hướng tăng. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đại dịch năm 2020, doanh số ô tô Việt Nam sụt giảm khiến lượng ô tô nhập khẩu cũng sụt giảm tương tự.
Năm 2021, Việt Nam nhập khẩu 160.035 ô tô, tăng 52,1% so với năm 2020. Theo dự báo của giới phân tích, thị trường ô tô Việt Nam được kỳ vọng sẽ phục hồi dần khi dịch bệnh Covid-19 được kiểm soát tốt tại Việt Nam. Theo dự báo của giới phân tích, thị trường Việt Nam còn nhiều dư địa tăng trưởng từ năm 2022 đến năm 2030 cho các nhà sản xuất phụ tùng ô tô và sản xuất ô tô. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người và xây dựng cơ sở hạ tầng, thị trường Việt Nam có nhu cầu cao đối với xe chở khách và xe thương mại.
Ngành sản xuất ô tô của Việt Nam có chi phí nhân công, đất đai và năng lượng thấp nhưng phải đối mặt với một chuỗi công nghiệp ô tô không hoàn hảo.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.Ngành công nghiệp ôtô là một trong những ngành đang trong quá trình phát triển mạnh, với nhiều các nhà máy sản xuất tiên tiến mọc lên. Công nghiệp ôtô là ngành công 3 nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước. Ngày nay do kinh tế ngày càng phát triển, đời sống ngày càng cao, việc các gia đình, các cá nhân có xe riêng phục vụ việc di chuyển không còn xa lạ nữa. Nhưng giá thành của xe hiện vẫn còn cao so với thu nhập bình quân của đất nước.
Vì vậy vấn đề lớn đặt ra cho đất nước ta là phải xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam để đến năm 2020 trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu thị trường trong nước và tham gia vào thị trường khu vực và thế giới. Hiện nay đất nước ta mới chỉ tập trung chính vào việc lắp ráp xe dựa trên việc nhập khẩu các bộ phận đơn lẻ. Cho nên việc cần thiết cho phát triển nền công nghiệp ô tô lâu dài là phải tự chế tạo các bộ phận trong nước để có thể giảm giá thành sản phẩm. Theo 177/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 thì các loại xe du lịch cao cấp phấn đấu đạt tỷ lệ sản xuất trong nước 20 - 25% vào năm 2005 và 40 - 45% vào năm 2010, đáp ứng phần lớn nhu cầu thị trường trong nước.
Việc sản xuất một số loại động cơ, hộp số, bộ truyền động và phụ tùng trong nước cũng là một vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô của chính phủ. Theo chiến lược phát triển của chính phủ, sản lượng sản xuất hộp số đạt 100.000 bộ/năm vào 2010, khoảng 200.000 bộ/năm vào năm 2020, tỷ lệ sản xuất trong nước đạt 90% vào năm 2010. Hộp số là một bộphận không thể thiếu của ôtô, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển của xe ôtô. Ngày nay, hộp số ôtô khá phong phú về chủng loại và kết cấu.
Trong quá trình học tập tại trường và qua các đợt thực tập trong lẫn ngoài trường em đã nắm bắt được các kiến thức cơ bản về hộp số xe ôtô, từ kết cấu đến công nghệ chế tạo cơ bản… Em cho rằng việc thiết kế chế tạo hộp số tại thời điểm hiện tại là thích hợp với các quá trình công nghệ hiện có tại Việt Nam. Lịch sử về hộp số 1. Hộp số sàn Được ví như trái tim của hệ thống truyền lực, hộp số biến đổi mô-men, tốc độ làm việc của động cơ sao cho phù hợp với điều kiện làm việc của bánh xe trên đường. Kể từ khi phát minh nổi tiếng của George Selden về bộ truyền động cầu trước kết hợp với động cơ 3 xi lanh đặt nằm ngang trở thành thiết kế trên xe hơi, có rất ít ý tưởng mới phù hợp.
Giới thiệu vào năm 1894, bản phác thảo đầu tiên của hộp số cận đại do hai kỹ sư người Pháp, Louis-Rene Panhard và Emile Levassor đưa ra đã không mang về cho hai ông vinh quang mà ngược lại phải nhận những chỉ trích. Buổi thuyết trình không thành công, chiếc xe mô hình bị chết máy, nội dung bị cắt bớt chỉ còn trình bày trên bảng đen. Một tờ báo viết “kẻ bịp bợm đã dùng nhiều trò mánh khóe để lừa gạt công chúng hâm hộ cùng với chiếc xe mới”. Có lẽ các nhà phát minh nên bỏ qua buổi nói chuyện công nghệ và sử dụng mô tả vừa đủ.
Những gì họ đã làm thật thô thiển.2: Chiếc xe do George Selden thiết kế vào năm 1877 Thời ấy, kết cấu truyền động khá đơn giản bằng bộ truyền đai hoặc bộ truyền bánh răng côn. Xe chỉ có thể chạy với tốc độ đa 32 km/h. Khi gặp vật cản trên đường, tài xế phải dừng lại gài số thấp. Lanchester, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực ôtô ở Anh, mô tả về chiếc xe của ông gồm hai cấp truyền đai, một cho tốc độ thấp, cần mô-men lớn và một ở tốc độ cao, mô-men nhỏ.
Một năm sau cuộc hộp báo tai tiếng, Panhard and Levassor nổi danh trở lại không những chỉ với riêng hộp số mà còn toàn bộ hệ thống truyền lực. Lần này, họ đã có chiếc xe đầu tiên sẵn sàng chạy khi đạp ga. Bên cạnh đó họ cũng đã có rất nhiều thay đổi về ý tưởng. Thực tế, nó là một mẫu đã đáp ứng được hầu hết các yêu cầu của xe được xây dựng vào những năm 90 và cả những năm sau đó.
Không giống như mẫu xe hiện thời, thiết kế mới có động cơ đặt dọc phía trước, truyền công suất ra cầu sau thông qua ly hợp và hộp số trượt 3 cấp và cầu chuyển động bằng xích. Nó gần giống như hệ thống truyền lực trên các xe hiện đại, nhưng chưa có vi sai và bán trục chủ động. Tuy nhiên, vào năm 1898, điều này đã trở thành hiện thực khi nhà triệu phú Louis Renault kết nối công suất thành công từ động cơ đặt dọc, qua hộp số tới cầu sau “sống” bằng trục kim loại.