CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH THANH KHOẢN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍNH THANH KHOẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tính thanh khoản Trong kinh doanh, kinh tế hoặc đầu tư, tính thanh khoản (hay trong tiếng anh là Liquidity) là một đặc điểm của thị trường, phản ánh khả năng trả nợ của tổ chức trong việc thanh toán các khỏan nợ ngắn hạn, hay bao gồm chi phí hoạt động và chi phí tài chính phát sinh trong tổ chức trong thời gian ngắn. Tính thanh khoản liên quan đến việc sử dụng tài sản lưu động như tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải thu, chứng khoán và tài sản ngắn hạn để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn.
Tài sản có tính thanh khoản có một số hoặc tất cả các đặc điểm như : Nó có khả năng tiêu thụ nhanh mà ít mất giá trị tại mọi thời điểm trong thị trường. Trong đó tiền, hay tiền mặt, là tài sản có tính thanh khoản cao nhất vì nó có thể được trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ ngay lập tức. Tài sản kém thanh khoản là tài sản không thể bán được nếu không giảm giá hoặc đôi khi không thể bán được dù nó ở bất cứ giá trị nào. Hàng tồn kho kho là loại tài sản có tính thanh khoản thấp nhất phải trải qua phân phối, tiêu thụ, thu của khách hàng, vì vậy nó không dễ dàng chuyển đổi thành tiền.
Theo Bhunia và Das (2012), Thanh khoản là khả năng của một công ty để đáp ứng các khoản nợ hiện tại của họ khi chúng đến hạn. Trên các thước đo hàng đầu về nguồn lực hiện tại mà một công ty tuyên bố có lẽ sẽ mở rộng tỷ lệ trợ cấp mang lại mối liên hệ giữa ảnh hưởng và tính thanh khoản. 6 Kim, Mauer và Sherman (1998) chứng minh rằng các công ty có mức nắm giữ tiền mặt cao hơn cho thấy nhiều cơ hội tăng trưởng hơn, nhiều biến động hơn trong dòng tiền và tiêu cực trong mối quan hệ giữa lượng tiền mặt và quy mô doanh nghiệp. Mặt khác, có một mối quan hệ thuận chiều giữa sự thay đổi của dòng tiền và mức đầu tư vào tài sản lưu động, phù hợp với biện pháp phòng ngừa của Keynes (1936) đã nêu ra trong các tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” (tên gốc tiếng Anh: The General Theory of 8 Employment, Interest and Money) Cái quy định lãi suất, nhất là trong ngắn hạn, chính là cung và cầu về tiền.
Công trình của Guney, et al. (2003) và Ozkan và Ozkan (2004), xác định các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức nắm giữ tiền mặt tối ưu có thể kiểm soát các vấn đề nội sinh có thể phát sinh, vì như Guney, et al. (2003) chỉ ra, những xáo trộn ngẫu nhiên ảnh hưởng đến quyết định về mức tiền mặt có thể cũng ảnh hưởng đến các đặc điểm của công ty như đòn bẩy, cơ hội tăng trưởng, v. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Wang (2002) Dữ liệu 17 năm của mẫu các công ty cho thấy rằng có một mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản và hiệu suất hoạt động.
Có nghĩa là có mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời. Một nghiên cứu được thực hiện bởi (Zhang, 2011) cũng cho biết rằng có một mối quan hệ tích cực đáng kể giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của công ty. Do đó, nhà quản trị cần duy trì khả năng thanh khoản, có thể được xem như là một phương pháp có hiệu quả và hợp lý để giảm sự phụ thuộc của công ty vào chi phí tài chính bên ngoài tốn kém. Tính thanh khoản cao xảy ra khi một tổ chức, doanh nghiệp có đủ tài sản để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính.
Tính thanh khoản thấp hoặc thắt chặt là 7 khi tiền mặt bị ràng buộc trong các tài sản không có tính thanh khoản, hoặc khi lãi suất cao, vì điều này làm cho việc vay vốn trở nên tốn kém. Nếu mất khả năng thanh khoản có thể dẫn đến việc công ty phải bán đi các dự án đầu tư, tài sản, huy động vốn với chi phí khá cao và thậm chí là phá sản. Bên cạnh đó, thanh khoản giúp doanh nghiệp linh hoạt và có được các lợi thế khi điều kiện thị trường thay đổi và ứng phó được với những chiến lược của các công ty cạnh tranh (Brigham và Houston, 2003). Tính thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong thành công của doanh nghiệp.
Các nhà quản trị doanh nghiệp phải đảm bảo rằng doanh nghiệp không bị mất khả năng thanh khoản, hoặc dư thừa khả năng thanh khoản. Điều này sẽ làm gia tăng chi phí và giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Ý nghĩa của tính thanh khoản trong doanh nghiệp Tính thanh khoản có mối quan hệ với các hoạt động hàng ngày, là vấn đề bắt buộc đối với cả nội bộ và các nhà phân tích bên ngoài để nghiên cứu tính thanh khoản. Tính thanh khoản có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của doanh nghiệp nói riêng và ngành kinh tế nói chung.
Tính thanh khoản đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, các công ty cần phải duy trì tỷ lệ thanh khoản cân bằng để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn và cả các chi phí phát sinh. Đối với hoạt động kinh doanh, nếu mất khả năng thanh khoản doanh nghiệp có thể bỏ lỡ các chương trình, chính sách ưu đãi từ các nhà phân phối, các đối tác. Doanh nghiệp không thể nhập được sản phẩm, dịch vụ giá tốt kéo theo sự cạnh tranh trên thị trường cũng giảm sút đáng kể.
Chi phí mua hàng hóa, dịch vụ cao doanh nghiệp sẽ chuyển phí cho người tiêu dùng, mức giá bán ra sẽ có sự chênh lệch. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự cạnh 8 tranh cao, người tiêu dùng sẽ tìm mua nơi khác để có mức giá tốt hơn và mất khách hàng sẽ là điều tất yếu xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với các đối tác, mất khả năng thanh khoản sẽ làm mất uy tín của bản thân doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ phải trả một số tiền lớn dẫn đến thiệt hại lớn, không thể tiếp tục hoạt động và có nguy cơ phá sản .Đây là điều mà không một doanh nghiệp nào mong muốn.
Đối với nội bộ doanh nghiệp, tính thanh khoản thể hiện ở việc quản lý chi phí đáp ứng cho các khoản nợ đến hạn và chi phí phát sinh. Tình trạng vỡ nợ sẽ xảy ra khi doanh nghiệp chi tiêu quá mức mà không cân bằng với doanh thu hoặc chi vượt quá thu nhập hiện có của mình. Việc bán cái tài sản hiện có để duy trì hoạt động công ty nhưng về lâu dài nếu quản lí nguồn nhân lực thiếu hiệu quả cũng góp phần làm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Đối với các cá nhân tổ chức cho vay, mất khả năng thanh khoản, doanh nghiệp sẽ có vết nợ xấu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn kinh doanh.
Ngoài ra tính thanh khoản là một trong những yếu tố đáng quan tâm của các nhà đầu tư. Như vậy, tính thanh khoản đảm bảo cho doanh nghiệp vận hành một cách thông suốt và được xem như dòng máu của doanh nghiệp. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu quốc tế Để nghiên cứu tính thanh khoản của các doanh nghiệp niêm yết: Crockett (2008) định nghĩa thực nghiệm về vai trò của tính thanh khoản: “Tính thanh khoản dễ nhận ra hơn là định nghĩa nó”.
Định nghĩa thanh khoản mang tính trừu tượng và đòi hỏi sự tư duy cao. Theo dòng lịch sử, 9 thanh khoản đã song hành với sự phát triển của khái niệm tiền tệ và đã thay đổi theo quá trình mở rộng tài chính, trong một phạm vi rộng hơn, nó thay đổi theo sự cải tiến trong cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính. Daryanto, Samidi và Siregar (2018) nghiên cứu về ảnh hưởng của tính thanh khoản và đòn bẩy tài chính đến hiệu quả tài chính tại các công ty bất động sản ở Indonesia. Trong đó nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng của tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR) và tỷ lệ nợ trên tổng tài sản với ROA.
Nghiên cứu chỉ ra rằng, tỷ số thanh toán hiện hành và tỷ lệ nợ có quan hệ cùng chiều với ROA. Anamika Singh và Anil Kumar Sharma (2016) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng ở Ấn Độ. Nghiên cứu xem xét các nhân tố vi mô: quy mô, tài sản cố định, tiền gửi, nguồn vốn, vốn chủ sở hữu, chi phí quỹ và các yếu tố vĩ mô: chính sách tiền tệ, GDP, khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, để tiến hành đánh giá. Kết quả cho thấy vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng.
Chen và Mahajan (2010) điều tra tác động của các điều kiện kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp cúa 45 quốc gia từ năm 1994 đến 2005 với mục đích đánh giá tính thanh khoản của mẫu công ty. Kết quả cho thấy các biến số kinh tế vĩ mô như tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất thực ngắn hạn, thâm hụt ngân sách, tín dụng, tín dụng tư nhân và thuế suất ảnh hưởng trực tiếp đến tiền mặt của công ty có nghĩa là chúng cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản hiện hành hạn của công ty. Nghiên cứu xác lập sự tác động của nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô và cải thiện khả năng thanh khoản hiện hành cho các doanh nghiệp. Tiến hành thực nghiệm 164 công ty trên thị trường chứng khoán tại Canada trong 3 năm từ năm 2008 đến năm 2010, tác giả điều tra tác động đến 10 khả năng thanh khoản của công ty.
Qua kiểm tra Anova để kiểm tra mối tương quan, đa cộng tuyến, tính phù hợp của mô hình Pearson để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp và kết luận rằng quy mô công ty, nợ ngắn hạn và yếu tố ngành có tác động cùng chiều đến thanh khoản còn yếu tố tỷ lệ nợ, vốn lưu động ròng và tỷ lệ đầu tư tác động ngược chiều đến khả năng thanh khoản. Filippo Ippolito và Ander Perez (2011), thực nghiệm trên 23.000 công ty Mỹ từ năm 2002 đến năm 2008. Kết quả cho thấy giá trị thị trường/giá trị sổ sách và chi phí nghiên cứu phát triển có mối tương quan âm còn các yếu tố quy mô công ty, dòng tiền, tỷ lệ vốn lưu động ròng (vốn lưu động ròng/tổng tài sản) thì tương quan dương với khả năng thanh khoản.