Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH- PHÁT TRIỂN CỦA THẦN ĐẠO VÀ TINH THẦN “HÒA” Ở NHẬT BẢN 1. Nguồn gốc và đặc điểm tôn giáo của khu vực Đông Á 1. Cơ sở ra đời của tôn giáo ở khu vực Đông Á và Nhật Bản Xét trong không gian địa lí, Đông Á là một khái niệm được nhắc đến để phân biệt với phía Tây châu Á, tức bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á bên cạnh những khu vực còn lại của Châu Á như Nam Á, Trung Á và Bắc Á. Nếu coi đây là những khu vực thuần tuý địa lý thì phạm vi, ranh giới đã được xác định rõ ràng với những quốc gia thuộc không gian địa lý nêu trên.
Tuy nhiên khi nói đến không gian Đông Á trong phạm vi nghiên cứu văn hóa, vị trí địa lý có tầm quan trọng của nó song mối quan hệ lịch sử và tính tương đồng văn hóa mới là cơ sở chủ yếu. Cũng trong quan niệm không gian văn hóa, phạm vi khu vực có thể có những chuyển dịch trong tiến trình lịch sử và không hoàn toàn bị ràng buộc bởi ranh giới quốc gia hiện đại. Trần Ngọc Thêm (2014) có khái niệm Đông Á theo nghĩa hẹp, như sau: “.phía chính đông của châu Á, đối lập với 7 phía còn lại (chính tây, chính nam, chính bắc, tây bắc, tây nam, đông bắc, đông nam- đối lập bát phân). “Đông Á” theo nghĩa này, về mặt địa lý bao gồm các vùng Bắc Trung Quốc, bán đảo Korea, quần đảo Nhật Bản.328) Và đây cũng là không gian Đông Á được sử dụng trong đề tài, là “thế giới Hán hóa” thuộc vùng địa lý Đông Bắc Á trong tương quan với những khái niệm tương tự là “thế giới Ấn Độ hóa”, “thế giới Hồi giáo” ở phương Đông hay “thế giới Latinh” ở phương Tây được nhắc đến trong tác phẩm Le nouveau monde sinisé của tác giả L.
Trong đó, không gian văn hóa Đông Á, hay nói chính xác là không gian Đông Bắc Á với sự chi phối mạnh mẽ của văn hóa Trung Hoa, có thể phân nhỏ thành các vùng văn hóa như vùng lưu vực sông Hoàng Hà và vùng lưu vực sông Dương Tử thuộc Trung Quốc, quần đảo Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên (Nguyễn Dương Hinh, 2014, tr. 9 Có thể nói rằng, châu Á là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại khi con người đã xuất hiện ở khu vực này từ rất sớm. Khi những cộng đồng cư dân nông nghiệp đầu tiên bắt đầu định canh, định cư với những công cụ thô sơ nhất bắt tay vào trồng trọt, sản xuất lương thực đã góp phần giở trang sử nhân loại sang một trang mới với những thay đổi vượt bậc trong nhận thức, tinh thần của cá nhân cũng như cơ cấu tổ chức cộng đồng. Trong buổi sơ khai tham gia vào hoạt động sản xuất, con người bắt đầu nhận thức những tác động mật thiết của tự nhiên đối với hoạt động hằng ngày của mình mà chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất là hoạt động gieo trồng, tạo ra lương thực.
Từ đó, con người có ý thức hơn về sự chi phối của tự nhiên lên những nhu cầu cá nhân của bản thân họ cũng như mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, làm sao để tự nhiên mang lại cho họ những sự thuận lợi trong hoạt động nông nghiệp. Từ động cơ này, những nghi lễ đầu tiên xuất hiện trong nhóm những người cùng chung sống tại những khu vực nhất định, chịu tác động bởi các điều kiện tự nhiên ở khu vực đó. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu với nhận thức chưa được đầy đủ về tự nhiên và khả năng lí giải về thế giới tự nhiên chưa thật hoàn thiện, con người có xu hướng khỏa lấp những điều còn là bí ẩn bằng sự tưởng tượng, thần thánh hóa những sự vật xung quanh mình, xem giới tự nhiên có khả năng thống trị đời sống con người với quyền năng vô tận. Từ đó dẫn đến quan niệm về vạn vật hữu linh và ý thức sùng bái tự nhiên trong đời sống hằng ngày.
Và cũng vì chưa thể lí giải tất cả những hiện tượng xung quanh mình và khả năng hạn chế trong việc tác động ngược lại lên tự nhiên nên bên cạnh sự tôn sùng, kính nể còn làm nảy sinh tâm lý khiếp sợ, hoàn toàn trông cậy vào những thế lực siêu nhiên do chính mình tưởng tượng ra khi bản thân ý thức được sự nhỏ bé của con người trước môi trường tự nhiên. Với đời sống sinh hoạt gắn liền với nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, dần hình thành sự kính nể cũng như nỗi sợ đối với các hiện tượng thiên nhiên, có thể thấy rằng tín ngưỡng bản địa bao trùm khu vực này là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên thể hiện cụ thể qua việc thờ cúng các vị thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như thần mặt trời, thần đất, nước, sông, biển,. nhằm cầu xin mưa thuận gió hòa, sự thuận 10 lợi trong hoạt động sản xuất. Đây cũng là yếu tố quyết định cuộc sống ấm no, an lành của cư dân nông nghiệp lúc bấy giờ.
Đặc điểm tôn giáo ở Đông Á và Nhật Bản Tôn giáo là sản phẩm của con người và những đặc điểm của một tôn giáo phản ánh trong đó nhận thức về điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội của cư dân khu vực ấy trong quá trình song hành cùng lịch sử của cộng đồng. Do ra đời và phát triển ở lưu vực những con sông lớn trên những đồng bằng màu mỡ là điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp, những nhà nước đầu tiên đã được khai sinh với bản chất của một nhà nước nông nghiệp. Từ đời sống sản xuất, chúng ta thấy rằng con người bấy giờ phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, nhất là giai đoạn nhận thức khoa học còn nhiều hạn chế, niềm tin vào sức mạnh, sự bảo hộ của tự nhiên, có cả sự e dè, kinh sợ là một màu sắc bao trùm, nổi bật với những nghi thức thờ cúng các vị thần tự nhiên trên khắp Đông Á. Thần Mặt trời, Thần đất, Thần nước, Thần lúa,.
là những vị thần quen thuộc xuất hiện trong những câu chuyện thần thoại thần bí và huyền hoặc mang đậm màu sắc nông nghiệp phương Đông đã được truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên gắn liền với những lễ hội dân gian đã phản ánh sâu sắc nhịp điệu lao động cũng như đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp bản địa và trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của tôn giáo Đông Á. Bên cạnh đó, theo Mai Ngọc Chừ (2008), tư tưởng phương Đông thiên về “chủ toàn” và tổng hợp. Vì vậy, dưới sự chi phối này, cư dân nông nghiệp phương Đông nói chung, cư dân Đông Á nói riêng chú trọng đến tính toàn diện, toàn thể.
Khi xem xét một sự vật, hiện tượng thường nhìn nó một cách tổng thể, xem nó như một hệ thống- cấu trúc hoàn chỉnh, các yếu tố có mối quan hệ ràng buộc, kết nối với nhau tạo thành một chỉnh thể. Tôn giáo ở Đông Á cũng nằm trong xu hướng ấy, nổi trội ở sự khoan hòa, linh hoạt trong sự kết nối với những thành tố mới, dễ dàng thích ứng với những biến động của đời sống- xã hội. Bắt nguồn từ xã hội nông nghiệp Đông Á gắn liền với sự phát triển của công xã nông thôn, hoạt động sản xuất được tiến hành bởi một cộng đồng gắn bó mật thiết và đòi hỏi duy trì xuyên suốt tinh thần tập thể 11 một cách bền vững. Với cơ cấu tổ chức xã hội như thế, con người trở nên mềm dẻo trong ứng xử với những cá thể khác cũng như khi tiếp nhận những yếu tố tôn giáo ngoại lai.
Đây cũng là nét đặc trưng của cư dân nông nghiệp khu vực này khi lịch sử buộc họ phải tiếp xúc với những cộng đồng khác nhau, tiếp cận với những nền văn hóa mới trong tâm thế khoan hòa, tiếp nhận và biến đổi một cách uyển chuyển để thích ứng thay vì bài trừ, độc tôn và độc đoán. Cũng chính nhờ sự linh hoạt và cởi mở trong đón nhận những dị biệt mà tôn giáo Đông Á không những phong phú với những tín ngưỡng bản địa vốn có mà còn trở nên đa dạng về hình thức bởi tính dung hợp với tín ngưỡng trong khu vực. Những khác biệt là điều tồn tại đương nhiên trong điều kiện tự nhiên- xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia nhưng những điểm tương đồng bàng bạc trong tín ngưỡng, tôn giáo ở khu vực Đông Á là điều chúng ta dễ dàng phát hiện. Niềm tin vào các vị thần, sùng bái tự nhiên, hòa đồng trong các mối quan hệ với tự nhiên và con người là những đặc điểm chung của tôn giáo ở Đông Á nhưng được thể hiện qua những hình thức, những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, thể hiện nét độc đáo trong đời sống tinh thần của cư dân bản xứ.
Sự ra đời và vai trò của Thần đạo trong xã hội Nhật Bản 1. Sự ra đời và phát triển của Thần đạo Thần đạo vốn phát triển từ rất nhiều cộng đồng rải rác nhưng được gìn giữ một cách bền vững ở Nhật Bản cổ đại. Thời gian ra đời của Thần đạo không được xác định rõ ràng, thậm chí không có tên gọi cho đến thế kỷ thứ VI sau Công nguyên. Khi Phật giáo và Khổng giáo du nhập vào Nhật Bản từ Trung Quốc, Thần đạo cần được định danh để phân biệt các niềm tin và những hoạt động thực hành tín ngưỡng của người Nhật vốn có từ trước đến giờ với những khái niệm mới từ bên ngoài.
Khi ấy, tên gọi Thần đạo ra đời. Những hoạt động mang tính tôn giáo đầu tiên của Nhật Bản không có tổ chức và tồn tại rời rạt trong nhiều cộng đồng nông nghiệp và ngư nghiệp sống trên khắp các hòn đảo của Nhật Bản. Tập trung vào những nghi lễ gắn liền với mùa vụ, cầu xin 12 mưa thuận gió hòa, phản ánh tín ngưỡng sùng bài tự nhiên và vạn vật hữu linh trong đời sống sơ khai thời cổ đại. Cho đến thời kì Yamato2 vào khoảng thế kỷ thứ III-IV khi thị tộc Yamato đã chinh phục và thống nhất các thị tộc khác dưới sự cai trị của mình, mặc dù gia tộc Yamato vẫn duy trì những truyền thống địa phương, nhưng niềm tin về sự tối cao của Nữ thần mặt trời Amaterasu cuối cùng đã lan khắp Nhật Bản, và người đứng đầu gia tộc Yamato được công nhận vừa là người cai trị quốc gia vừa là người đứng đầu Thần đạo.
Và thần thoại Thần đạo đã góp phần củng cố thêm vị trí quan trọng đầy tính thần quyền của người đứng đầu một thị tộc.