Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh m c tài liệu than khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết và 10 tiểu tiết. 8 Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THIỀN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TÍNH CHẤT THIỀN NHẬP THẾ TRONG TƢ TƢỞNG TRẦN NHÂN TÔNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THIỀN VÀ THIỀN NHẬP THẾ 1. Quan điểm chung về thiền Từ nguyên và định nghĩa của Dhyāna (Thiền): Thiền (sa.
dhyāna, zh. chán 禪, ja. zen), gọi đầy đủ là Thiền-na (zh. chánna 禪那, sa.
dhyāna, ja. Những thuật ngữ đầu tiên về thiền có thể được tìm thấy trong trường phái Yoga là một trong s u trường phái thuộc hệ thống triết học tôn giáo Bàlamôn chính thống ở thời kỳ cổ điển; nó là một học thuyết triết học tôn giáo mang tính chất duy tâm cực đoan nằm trong hệ thống triết học Ấn Độ thời cổ đại. Để đạt đến trạng thái giải thoát hoàn toàn, trường phái Yoga dựa vào tôn chỉ của biệt ph i đ là con đường tu luyện Yoga (Du - già). Những pháp tu luyện này có từ thời rất xa xưa, khi ấy chúng dường như là công c đã giúp cho con người nắm bắt và kết nối được với những lực lượng siêu nhiên.
Tại Ấn Độ từ thời thượng cổ, ngay thời văn minh sông Ấn, đã thấy có những bức tượng biểu thị cho phương ph p tĩnh tọa, thiền định, minh tưởng. Về sau n được chuyển dần thành một môn phái triết lý tôn giáo, một phương pháp tu hành của nhiều tôn giáo lấy tĩnh tọa, tĩnh tâm làm c ch thức thực hành để chế ngự cảm giác và giải thoát khỏi sự chi phối của thế giới vật d c, nhằm giải thoát linh hồn, tinh thần khỏi những ràng buộc của thể xác và sự lôi cuốn của thế giới vật d c, để đạt tới sự đại gi c, đồng nhất với lực lượng siêu nhiên tuyệt đối, vĩnh hằng. Để đạt đến trạng thái giác ngộ hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh tuyệt đối của bản tâm, hành giả cần phải xem nhẹ vật d c để không bị chìm đắm 9 vào những ràng buộc, phiền não của thế gian mới có thể nhập vào trạng thái đại định đồng nhất với bản thể thiêng liêng của vũ tr đ chính là Đại ngã. Mỗi đạo sĩ cần phải kiên tâm trì chí nỗ lực thực hành khổ hạnh nghiêm mật khắc chế thể xác qua nhiều giai đoạn khổ tu mới có thể đạt đến hoa trái trí tuệ của tinh thần; n được hệ thống thành yếu chỉ tu tập “B t bảo tu ph p”, đ là: 1.
Yamas (Sanskrit: यम, là chế giới hay diệt d c): trong giai đoạn này phải triệt để thực hành và giữ gìn giới luật trang nghiêm. Niyamas (Sanskrit: नियम, nội chế): là quá trình dấn thân vào khổ luyện tu hành, giữ cho tâm trí luôn luôn thanh thản và trong sạch về đạo đức. Āsana (Sanskrit: आसन, tọa pháp): là quá trình thực tập rèn luyện tĩnh tọa, mọi cảm giác và c động cần phải được loại bỏ; ngồi kiết già là tư thế tĩnh tọa ưu việt nhất, bắt chéo chân phải lên trên chân trái và chân trái kéo đè l n chân phải, lòng bàn tay phải đặt lên trên lòng bàn tay trái sao cho hai đầu ngón tay cái chạm nhau và cùng đặt nằm tr n hai bàn chân, lưng phải thật thẳng và mắt phải tập trung vào đầu ch t mũi để theo d i hơi thở vào ra. Trước khi vào tĩnh tọa hãy chuẩn bị cho tâm thật lắng, thần thật lặng.
Prāṇāyāma (Sanskrit: य म, điều tức ph p, nghĩa là điều hòa hơi thở): là phương ph p kiểm so t hơi thở, không được hít nhiều, không được thở mạnh, phải thở khoan thai nhẹ nhàng để khỏi phân tán tinh thần. Khi thực tập điều hòa hơi thở, hành giả có thể lắng đọng tất cả những vọng niệm trong tâm trí, mọi thứ sẽ trở nên rỗng rang, thanh tịnh. Pratyāhā (Sanskrit: प्रत्याहार) là sự chế ngự các giác quan): là cách thức kiểm so t, điều ph c, chế ngự c c gi c quan không để cho trần cảnh bên ngoài chi phối làm cho tâm trí bị dao động, nó là sự rút lui, phòng hộ ngũ căn khỏi c c đối tượng trần cảnh b n ngoài, để thay thế các gi c quan được tạo ra từ tinh thần của một vị thần giác ngộ. Dhāraṇā (Sanskrit: र , tổng trì pháp): được dịch ra là “sự điều khiển hay chú tâm của tâm trí (tham gia việc giữ hơi thở)”, hay “hành động giữ, chịu đựng, chấp nhận, hỗ trợ, duy trì, giữ lại (trong ký ức), một ký ức đẹp”, hay “sự vững vàng, sự ki n định,…, sự chắc chắn”.
Thuật ngữ này liên quan đến từ nguy n dhri nghĩa là giữ, thực hiện, duy trì; phương pháp tu luyện này nhằm tập trung toàn bộ trí tuệ vào một ý hay một điểm nhất định, để giúp tinh thần thoát khỏi mọi cảm gi c, ý nghĩ, tư d c và đạt được sự tinh khiết hoàn toàn. Dhyāna (Sanskrit: य न, tĩnh lự pháp hay thiền định pháp): Dhyāna tiếng Phạn c nghĩa là “chi m nghiệm, suy tư”, “thiền định”, “trầm tư mặc tưởng”. Gốc của từ này là “dhi” trong lớp văn bản đầu tiên của kinh Vệ Đà đề cập đến “tầm nhìn trừu tượng sâu sắc” và được liên kết với nữ thần Trí tuệ Saraswati, với sức mạnh tri thức, trí tuệ và tài hùng biện. Dhyāna chính là một nghệ thuật tu luyện tinh thần đạt đến trạng thái tập trung chuyên nhất, không còn tạp niệm nhằm đưa con người đến trạng th i thăng hoa gi c ngộ, nhận thức được uyên thâm, và mầu nhiệm.
Samadhi (Pali và Sanskrit: समाधि, hay Prajna, cũng được gọi là Samapatti) là pháp tam muội hay tuệ, là sự kiểm so t được tâm trí hoàn toàn để đạt tới sự đại giác, không còn ý thức về sự hiện hữu của mình, thấy mình hòa vào đại ngã, lâng lâng xán lạn, thấy mình giải thoát hoàn toàn khỏi thế giới. Trong yoga có rất nhiều môn ngành, nhưng môn ngành nào cũng phải s d ng t m phương ph p tu luyện chung của yoga. Môn ngành Dhyāna - yoga là trình độ tu luyện cơ bản dựa trên sự suy niệm (Meditation) và dẫn bậc yogi tới năng lực kiểm tra làm chủ quá trình suy niệm đ , làm cho tinh thần trở nên thanh khiết, trong s ng, vượt ra khỏi sự chi phối của thế giới vật d c. 11 Về mặt lịch s , Dhyāna (dhyāna), là một thể loại yoga, nó là một trong những yếu tố cơ bản của triết lý yoga (yogadarśana1).
C c văn bản hiện đại dịch nó là thiền. Thuật ngữ này có nguồn gốc xa xưa bắt nguồn từ Rig Veda (khoảng năm 1200 trước Công nguyên), nó là một văn bản thiêng liêng của Ấn Độ cổ đại. Về sau dhyāna trở thành một phần của yoga trong Upanișads, và là nền tảng trong khuôn khổ yoga của Patañjali. Nó là một thuật ngữ cơ bản mà các mô tả khác về thực hành yoga cần phải dựa vào.
Trong Ấn Độ giáo, thiền là một phần của quá trình nhận thức tự định hướng và thống nhất Yoga, nhờ đ Yogi nhận ra bản thân (Atman, linh hồn), mối quan hệ của một người với các sinh vật sống khác, và thực tại tối thượng. Ngoài việc là một phần thiết yếu của Ấn Độ giáo, thiền cũng tìm thấy vị trí của nó trong Phật giáo và Jaina giáo, trong đ những người theo các tôn giáo này cũng tin và thực hành thiền định. Từ Dhyāna đã được nói đến trong các kinh điển Hindu như sau: Trong kinh Vệ đà, thuật ngữ Dhyanam xuất hiện trong văn học Veda như trong Rig Veda và trong Taittiriya Aranyaka. Trong kỷ nguyên Veda, thiền định song song với những ý tưởng về “nội tại h a”.
Ở đây c c nghi lễ đốt l a bên ngoài (Agnihotra) được thay thế bằng các nghi lễ thiền định bên trong, giống như thực hiện nghi lễ đốt l a b n trong cơ thể thay vì b n ngoài và được gọi là Prana Agnihotra. Thiền được đ nh đồng với nghi lễ đốt l a bên trong. Nó là sự “tổng hợp hóa nghi lễ l a Veda vào trong thiền Yogic” được đề cập trong các lớp Samhita và Aranyaka của kinh Veda trong Chandogya Upanishad, cũng được giải thích trong các văn bản Phật giáo sau này. Phật gi o đã mô tả thiền là “hình thức hiến tế l a b n trong”.
Những lời dạy của Veda cho rằng, vì bản ngã thần thánh phổ quát ngự trị trong trái tim, nên cách tốt nhất để trải nghiệm và 1 Yoga darsana thường được định nghĩa là hệ thống triết học yoga và thường được li n kết với c c Kinh Yoga của Patanjali, đã được hệ thống h a darsana này. Yoga là một thuật ngữ tiếng Phạn, c nghĩa là “hợp nhất” và darsana được dịch là “tầm nhìn” hoặc “c ch nhìn thế giới”. C s u darsana chính thống trong triết học Ấn Độ gi o, trong đ yoga darsana là một trong những c ch cổ xưa nhất. M c ti u của yoga darsana là nhận ra thực tại cuối cùng và đạt được sự giải tho t tinh thần.
12 nhận ra thần tính là hướng sự chú ý của một người vào bên trong thông qua quá trình thiền quán. Đ là một phần của nhận thức tự định hướng, nhờ đ thiền sinh thể nghiệm sâu sắc về nội tại của bản thân (Atman), mối quan hệ của mình với những chúng sinh khác và thực tại tối hậu tức là रम मन Paramatma, có nghĩa là Atman tuyệt đối, hay bản ngã tối cao, bản ngã nguyên thủy hay bản ngã phổ qu t, đ là sự đồng nhất về mặt tinh thần với thực tại tuyệt đối và cuối cùng. Vị tha là thuộc tính đặc trưng của Paramatman - nơi c tính sai biệt của mọi cá nhân sẽ tự biến mất và hòa vào đại ngã. Trong Upanishads (Sanskrit: उपनिषद् ), thuật ngữ Dhyāna được dùng với nghĩa thiền trong Upanishad.
Prashna Upanishad khẳng định rằng thiền định về “AUM” dẫn đến thực tại cuối cùng tức là thế giới của Brahman. Thuật ngữ Dhyana và các thuật ngữ li n quan như Dhyai c nghĩa là thiền định sâu sắc cũng xuất hiện trong nhiều bộ Upanishad được soạn sau thế kỷ thứ V trước Công nguyên. Trong kinh điển Phạm thiên - Brahma Sūtras (Sanskrit: मस , văn bản nền tảng của trường phái Vedanta của Ấn Độ gi o) đề cập rằng Dhyāna tức là thiền định thuộc về tất cả c c trường phái Veda. Adi Shankaracharya dành một chương mở rộng về thiền định cần thiết cho việc thực hành tâm linh trong bài bình luận của ông về các kinh Brahma và cả trong Bhasya của ông về Bhagavad Gita và Upanishad thời kỳ đầu.