Chương 1: Tìm kiếm ảnh dựa vào màu sắc 1. Một số đặc tính vật lý đặt biệt của màu sắc 1. Hệ thống màu chuẩn RGB 1. Hệ thống màu CMY 1.
Hệ thống màu L*a*b 1. Hệ thống màu HSI 2. Tìm kiếm ảnh dựa vào màu sắc 2. Các loại độ đo màu sắc 9.
văn tốt nghiệp đại học 1. Màu sắc: Sự nhận thức về màu sắc là quá trình quan trọng của con người. Sự nhận thức về màu sắc phụ thuộc vào cả tính chất vật lý của ánh sáng và quá trình xử lý của thị giác với sự góp phần rất quan trọng của kinh nghiệm. Con người dùng thông tin màu sắc để phân biệt đối tượng, vật liệu, đồ ăn, vị trí và ngay cả thời gian của ngày.
Với sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị kinh tế, máy móc xử lý màu sắc trở nên thông dụng: Chúng ta có các thiết bị như máy quay phim màu, thiết bị chiếu màu và những phần mềm xử lý ảnh màu. Máy móc có thể dùng màu sắc cho những mục đích như là con người. Đặc biệt, màu sắc thuận tiện bởi vì nó cung cấp phép đo lường đa dạng tại mỗi điểm ảnh đơn, có thể phân lớp, phân loại mà không cần đến những sự xử lý không gian phức tạp để đưa đến quyết định. Một số đặc tính vật lý đặc biệt về màu sắc: Con người chỉ có khả năng nhận thức được ánh sáng có bức xạ điện từ với bước sóng trong khoảng 400 – 700 nanomet.
Cơ quan thị giác cảm nhận được ánh sáng là do bề mặt đối tượng phát ra ánh sáng, là kết quả của sự tương tác giữa năng lượng chiếu sáng và những phân tử của bề mặt đối tượng. Một đối tượng màu xanh dương sẽ có bề mặt màu xanh dương khi chiếu ánh sáng trắng vào. Nhưng đối tượng đó sẽ có màu tím khi chiếu ánh sáng đỏ vào. Hệ thống màu chuẩn RGB: Mắt người có thể phân biệt hàng ngàn màu sắc khác nhau, những con số chính xác hơn vẫn còn đang được bàn cãi nhiều.
Ba màu RGB (Red-Green- Blue) mã hóa hệ thống đồ họa sử dụng ba byte (28)3 hay khoảng chừng 16 triệu màu phân biệt. Máy tính có thể phân biệt bất kỳ màu gì sau khi được mã hóa, nhưng việc mã hóa có thể không trình bày được những sự khác biệt 10. văn tốt nghiệp đại học trong thế giới thực. Mỗi điểm ảnh RGB bao gồm một byte cho màu R, một byte cho màu G và một byte cho màu B.
Việc mã hóa một màu tùy ý trong dãy hiển thị được làm bằng cách tổ hợp ba màu chính. Ví dụ: Red(255,0,0), Green(0,255,0), Blue(0,0,255), Black(0,0,0) Hệ thống màu RGB là một hệ thống màu cộng vào bởi vì mỗi màu được tạo nên bằng cách cộng thêm các phần tử vào màu đen(0,0,0) Khuôn dạng của không gian màu RGB là định dạng phổ biến nhất của ảnh số, lý do chính là tính tương thích với màn hình hiển thị chính là màn hình vi tính. Tuy nhiên không gian màu RGB có hạn chế lớn nhất là không phù hợp với cách con người cảm nhận về màu sắc. Do đó không phù hợp cho việc ứng dụng vào tìm kiếm ảnh.
Blue [0,1,1] Cyan [0,0,1] [1,0,1] Magenta [0,1,1] White [0,0,0] Green [0,1,0] [1,0,0] [1,1,0] Yellow Red Hình 1: Khối màu 11. văn tốt nghiệp đại học 1. Hệ thống màu CMY: Hệ thống màu CMY theo mô hình in trên giấy trắng và theo khuôn mẫu trừ từ màu trắng thay vì thêm vào từ màu đen như hệ thống màu RGB. CMY là viết tắt của Cyan-Magenta-Yellow (màu lục lam, màu đỏ tươi, màu vàng), đó là ba màu chính tương ứng với ba màu mực in.
Cyan hấp thu sự chiếu sáng của màu đỏ, Magenta hấp thu màu xanh lục, Yellow hấp thu màu xanh dương. Do đó, tạo ra sự phản ánh tương ứng như khi in ảnh được chiếu sáng với ánh sáng trắng. Hệ thống dưới dạng âm tính vì mã hóa theo dạng hấp thụ màu. Có một số mã hóa như sau: trắng (0,0,0) vì không có ánh sáng trắng được hấp thụ, đen (255,255,255) vì tất cả các thành phần của màu trắng đều được hấp thụ.
Hệ thống màu CMY dường như là một sự đảo ngược của hệ thống màu RGB. Đặc tính của nó là sự đơn giản, ứng dụng nhiều trong thực tế. Tuy nhiên khuyết điểm của nó cũng tương tự như không gian màu RGB, tức là cách mã hóa khác với cách mà con người cảm nhận về màu sắc. Không thích hợp cho bài toán tìm kiếm ảnh dựa vào nội dung.
Hệ thống màu L*a*b: Mô hình L*a*b được đề cử bởi CIE cho việc lượng hóa sự khác biệt của màu sắc trong vật chiếu sáng của ánh sáng ban ngày. Tuy nhiên nó có một sự chuyển đổi được ghi vào để mà tính toán cho việc thích nghi với những nguồn sáng. Đây là hệ thống màu có sự tách riêng ánh sáng và màu sắc ra riêng. Do đó, cũng có khả năng lớn cho việc tìm kiếm dựa vào nội dung.
Hệ thống màu HSI: Hue-Saturation-Intensity Hệ thống màu HSI mã hóa thông tin màu sắc bằng cách chia giá trị intensity I từ hai giá trị được mã hóa thuộc về độ hội tụ của màu- hue H và saturation S. văn tốt nghiệp đại học Thành phần không gian màu HSI gồm có ba phần: Hue được định nghĩa có giá trị 0-2Π , mang thông tin về màu sắc. Saturation có giá trị 0-1, mang giá trị về độ thuần khiết của thành phần Hue. Intensity (Value) mang thông tin về độ sáng của điểm ảnh.Ta có thể hình dung không gian màu HSI như là vật hình nón.
Với trục chính biểu thị cường độ sáng Intensity. Khoảng cách đến trục biểu thị độ tập chung Saturation. Góc xung quanh trục biểu thị cho sắc màu Hue. Đôi khi, hệ thống màu HSI được coi như là hệ thống màu HSV dùng Value thay vì Intensity.
Hệ thống màu HSI thì thích hợp hơn với một số thiết kế đồ họa bởi vì nó cung cấp sự điều khiển trực tiếp đến ánh sáng và hue. Hệ thống màu HSI cũng hỗ trợ tốt hơn cho những thuật toán xử lý ảnh vì sự tiêu chuẩn hóa về ánh sáng và tập chung vào hai tham số về độ hội tụ màu, và cường độ màu. H=2Π/3 I Green Green H=Π/3 White Yellow Yellow H Cyan S Red H=Π H=0 Cyan Red Blue H=4Π/3 I=1 Magenta I=0.5 Blue [0,0,0] Black Hình 2: Khối nón màu minh họa hệ thống màu HSI Hệ thống màu HSI có sự phân chia rõ rệt giữa ánh sáng và màu sắc. Do đó có khả năng rất lớn được áp dụng cho việc tính đặc trưng và so sánh sự giống 13.
văn tốt nghiệp đại học nhau về màu sắc của hai ảnh. Do đó nó rất thích hợp cho việc tìm kiếm ảnh dựa vào màu. Sự giống và khác nhau giữa hai ảnh về mặt màu sắc đối với mắt người chỉ mang ý nghĩa tương đối. Do đó khi áp dụng vào bài toán này trên máy tính thì ta cũng giả lập sự tương đối này.
Phương pháp chính của việc tìm kiếm theo màu sắc là dùng lượt đồ màu để làm đặc trưng cho từng ảnh. Do những đặc điểm riêng của mô hình màu HSI và đặc trưng của việc tìm kiếm nên tính lượt đồ màu cũng được dùng một mô mình rất đặc biệt để phù hợp cho những đặc điểm riêng này. Tìm kiếm ảnh dựa vào màu sắc: Phương pháp phổ biến để tìm kiếm ảnh trong một tập những ảnh hỗn tạp cho trước là dựa vào lượt đồ màu của chúng. Đây là cách làm khá đơn giản, tốc độ tìm kiếm tương đối nhanh nhưng khuyết điểm là kết quả tìm kiếm lại có độ chính xác không cao.
Nhưng đây có thể được xem như là bước lọc đầu tiên cho những tìm kiếm sau. Muốn được kết quả chính xác cao đòi hỏi sự kết hợp đồng thời với vân (texture) và hình dáng (shape). Cho đến nay, để giải quyết vấn đề về màu sắc, cách tiếp cận chính vẫn là dựa vào lượt đồ màu. Lượt đồ màu: Lượt đồ màu: Như là một bảng tóm tắt thông tin về màu sắc cho một ảnh màu bất kỳ.
Và việc tính lượt đồ màu này được tiến hành một cách rất nhanh chóng trong ảnh mà chỉ qua một lần duyệt qua toàn bộ ảnh. Do đó ứng dụng vào việc tìm kiếm ảnh sẽ có lợi rất lớn về mặt tốc độ. Một số tính chất cần quan tâm của lượt đồ màu đối với vấn đề truy tìm ảnh: - Việc tính lượt đồ màu của ảnh diễn ra rất nhanh chóng trong ảnh chỉ qua một lần duyệt qua toàn bộ ảnh. văn tốt nghiệp đại học - Lượt đồ màu tương đối bất biến đối với phép tịnh tiến, xoay ảnh, và nhất là sự kéo nhỏ, kéo giãn, thay đổi kích thước của ảnh.
- Lượt đồ màu của một ảnh màu có thể là một cách miêu tả rất có ý nghĩa cho việc truy tìm ảnh hay nhận dạng đối tượng trong ảnh 2. Lượt đồ màu thông thường RGB: Đối với ảnh 256 màu, lượt đồ màu của ảnh tương đương với lượt đồ màu của ảnh xám. Đối với ảnh 24 bit màu, lượt đồ màu miêu tả khả năng kết nối về cường độ của ba kênh màu R, G, B. Lượt đồ màu này được định nghĩa như sau: hR,G,B[r, g, b] = N*Prob{R=r, G=g, B=b} trong đó N là số lượng điểm có trong ảnh.
Lượt đồ màu ở dạng này được tính bằng cách rời rạc hoá từng màu trong ảnh, sau đó là đếm số điểm ảnh của mỗi màu. Khi mà số lượng màu là có hạn, để thuận tiện hơn, người ta thường chuyển đổi ba kênh màu thành một biến giá trị màu duy nhất. Cho một ảnh RGB, một kiểu chuyển đổi thường được sử dụng là: m= r+Nrg+NrNgb trong đó Nr,Ng là số lượng bin của màu đỏ và màu xanh lục. Điều này mang lại một lượt đồ đơn duy nhất như sau: h[m] = N*Prob{M=m} Một cách khác để tính lượt đồ màu của ảnh RGB là ta phân ra thành 3 lượt đồ riêng biệt hR[], hG[], hB[].
Khi đó, mỗi lượt đồ được tính bằng cách đếm kênh màu tương ứng trong mỗi điểm ảnh. Lượt đồ màu HSI: Mô hình màu HSI có những ưu điểm lớn cho việc tìm kiếm hình ảnh dựa vào nội dung và nhất là trong công việc tìm kiếm dựa vào màu sắc. Nhưng những ảnh màu thông thường được lưu trữ ở dạng kỹ thuật số trong máy tính 15. văn tốt nghiệp đại học thường theo chuẩn RGB, do đó để có được ảnh màu HSI ta phải qua công đoạn chuyển đổi.
Chuyển từ hệ màu RGB sang hệ màu HSI là một thuật giải có rất nhiều trong hầu hết những sách về xử lý ảnh cổ điển.