BỘ GIÁO DỤC VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nguyễn Thị Lan Phương MỘT SỐ KỸ THUẬT NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG DỰA TRÊN ĐỘ ĐO KHOẢNG CÁCH THÍCH NGHI VÀ PHÂN CỤM PHỔ LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH Hà Nội - 2023 BỘ GIÁO DỤC VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ ĐÀO TẠO VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nguyễn Thị Lan Phương MỘT SỐ KỸ THUẬT NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRA CỨU ẢNH THEO NỘI DUNG DỰA TRÊN ĐỘ ĐO KHOẢNG CÁCH THÍCH NGHI VÀ PHÂN CỤM PHỔ LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÁY TÍNH Mã số: 9 48 01 01 Xác nhận của Học viện Người hướng dẫn 1 Người hướng dẫn 2 Khoa học và Công nghệ PGS. Ngô Quốc Tạo TS. Nguyễn Ngọc Cương Hà Nội - 2023 LỜI CAM ĐOAN Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan Phương LỜI CẢM ƠN Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2023 Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan Phương MỤC LỤC i ii iii iv v DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TBIR Text-based image retrieval Tra cứu ảnh dựa trên văn bản CBIR Content-based image retrieval Tra cứu ảnh dựa trên nội dung Image retrieval method using Phương pháp tra cứu ảnh sử IRIC Incremental clustering dụng phân cụm tăng dần Clustering Images Set using Nhóm ảnh được thiết lập bằng CISE Eigenvectors cách sử dụng Eigenvectos INC Incremental Clustering Phân cụm tăng dần CNN convolutional neural networks Mạng nơ ron phức hợp Tra cứu ảnh bằng cách sử dụng Image Retrieval using the khoảng cách khoảng cách tối ODLDA optimal distance and linear ưu và phân tích phân biệt tuyến Discriminant analysis tính Online Algorithm for Scalable Mở rộng thuật toán trực tuyến OASIS Image Similarity cho sự giống nhau của ảnh DML Distance metric learning Học khoảng cách khoảng cách Discriminative Components Phân tích các thành phần phân DCA Analysis biệt IR Information retrieval Tra cứu thông tin RF Relevance feedback Mức độ trả lời liên quan ST Semantic template Mẫu ngữ nghĩa RGB Red Green Blue Đỏ lục lam CCVs Color coherence vectors Các vectơ liên kết màu Shift-invariant principal Phân tích thành phần chính SPCA component analysis thay đổi – bất biến vi Maximum likelihood Tính toán khả năng xảy ra tối MLE estimation đa vii viii DANH MỤC HÌNH VẼ Hình I. Sơ đồ tra cứu ảnh dựa vào nội dung.
PCA cho bài toán phân lớp với 2 lớp. Khoảng cách phân kỳ giữa các kỳ vọng và tổng các phương sai ảnh hưởng tới độ tách của dữ liệu. Hình ảnh đầu vào (bên trái) và bộ mô tả GIST 512D của nó (bên phải). Nhiều phần nền trong hình ảnh giống nhau về nội dung trực quan dẫn đến sự giống nhau của các khối mô tả.
Lỗi lượng tử hoá cho tập dữ liệu 1M SIFT(a) và 1M GIST (b). Hình ảnh đầu vào (bên trái) và bộ mô tả SIFT được tính toán tại 4 điểm chính (bên phải). Chất lượng mã hoá cho SIFT (a) và GIST (b). Hiệu suất tìm kiếm ANN cho SIFT (a) và GIST (b).
1 Một ví dụ về sự mơ hồ và giàu ngữ nghĩa. Ví dụ về ba bộ ảnh khác nhau được truy xuất với cùng một truy vấn tuỳ thuộc vào loại nhiệm vụ CBIR. Sơ đồ của phương pháp đề xuất ODLDA. Kiến trúc học biểu diễn dựa vào mô hình CNN được tiền huấn luyện.
Một số mẫu trong thư viện ảnh Corel. Một số mẫu trong tập SIMPLIcity. So sánh độ chính xác trung bình của các phương pháp trên scope 50, 100 và 150 trên tập SIMPLIcity. Sơ đồ của tra cứu ảnh sử dụng phân hoạch đồ thị.
102 ix Hình III. Một số ảnh trong tập SIMPLIcity. So sánh độ chính xác của ba phương pháp trên tập ảnh SIMPLIcity. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là tra cứu ảnh dựa trên nội dung bằng cách kết hợp khoảng cách tối ưu và phân tích phân biệt tuyến tính, tiến hành thực nghiệm trên tập cơ sở dữ liệu tập ảnh Corel (1 0.800 ảnh), phân hoạch đồ thị với cơ sở dữ liệu ảnh SIMPLIcity (1.000 ảnh với 10 chủ đề.
Mỗi ảnh có kích thước 256×384 hoặc 384×256). TỔNG QUAN VỀ TRA CỨU ẢNH DỰA VÀO NỘI DUNG 1. Giới thiệu Tra cứu ảnh dựa vào nội dung (CBIR) là sử dụng nội dung trực quan của ảnh để tìm những ảnh trong những cơ sở dữ liệu ảnh lớn mà tương tự với ảnh truy vấn. CBIR là một lĩnh vực nghiên cứu tích cực và phát triển nhanh chóng từ những năm 1990.
Trong những thập kỹ qua, CBIR có có những tiến bộ về cả lý thuyết và ứng dụng, tuy nhiên, độ chính xác và tốc độ của các hệ thống CBIR vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu cải tiến. Trước khi giới thiệu lý thuyết cơ bản về tra cứu ảnh dựa trên nội dung NCS giới thiệu sơ lược về sự phát triển của nó. Đầu tiên, nghiên cứu về tra cứu ảnh bắt đầu từ những năm 1970 đến 1979, hội nghị về kỹ thuật ứng dụng báo ảnh được tổ chức tại Florence. Kể từ đó, tiềm năng ứng dụng của kỹ thuật quản lý cơ sở dữ liệu ảnh đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Ban đầu, tra cứu ảnh sử dụng cách tiếp cận chú thích ảnh. Nói cách khác, ảnh đầu tiên được chú thích bằng văn bản và sau đó được tra cứu bằng cách tiếp cận dựa trên văn bản bởi hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu truyền thống. Sơ đồ tra cứu ảnh dựa vào nội dung 8 quả trả về. Trong sơ đồ trên, cơ chế lập chỉ mục được sử dụng để tăng tốc hệ thống tra cứu ảnh, còn cơ chế phản hồi liên quan được sử dụng nhằm chọn những bức ảnh phù hợp với mong muốn của người dùng để nâng cao độ chính xác tra cứu ảnh.
Mô tả nội dung ảnh Một bộ mô tả nội dung trực quan tốt phải bất biến với các thay đổi trong quá trình thu nhận ảnh (ví dụ: sự thay đổi của ánh sáng trong quá trình thu ảnh). Tuy nhiên, có sự cân bằng giữa tính bất biến và năng lực phân biệt của các hình ảnh, vì một lớp bất biến rất rộng làm mất khả năng phân biệt giữa những khác biệt cơ bản. Mô tả bất biến phần lớn đã được nghiên cứu trong thị giác máy tính (như nhận dạng đối tượng), nhưng tương đối mới trong nghiên cứu về tra cứu ảnh. Việc phân vùng đơn giản không tạo ra các vùng có ý nghĩa về mặt cảm nhận mà là một cách thể hiện chung của ảnh ở độ phân giải tốt hơn.
Một phương pháp tốt hơn là chia ảnh thành các vùng đồng nhất theo một số tiêu chí bằng cách sử dụng các thuật toán phân vùng đã được nghiên cứu rộng rãi trong thị giác máy tính. Một cách phức tạp hơn để phân chia một hình ảnh, là thực hiện phân đoạn đối tượng hoàn chỉnh để thu được các đối tượng có ý nghĩa về mặt ngữ nghĩa (như quả bóng, ô tô, con ngựa).4 Biểu đồ mầu Biểu đồ mầu là sự biểu diễn hiệu quả nội dung màu của ảnh nếu mầu là duy nhất so với phần còn lại của tập dữ liệu. Biểu đồ màu dễ tính toán và hiệu quả trong việc mô tả đặc điểm của sự phân bố màu toàn cục và cục bộ trong 11 một hình ảnh. Ngoài ra, nó ít bị ảnh hưởng bởi sự dịch chuyển, xoay.
và chỉ thay đổi từ từ theo tỉ lệ và góc nhìn. Vì bất kỳ pixel nào trong ảnh có thể được mô tả bởi ba thành phần trong một không gian màu nhất định (ví dụ: các thành phần đỏ, lục lam trong không gian RGB hoặc màu sắc, độ bão hòa và giá trị trong không gian HSV), một biểu đồ, tức là, phân phối số lượng pixel cho mỗi thùng màu (bin) được lượng hóa, có thể xác được cho từng thành phần. Rõ ràng, biểu đồ màu càng chứa nhiều thùng màu thì nó càng có nhiều khả năng phân biệt. Tuy nhiên, một biểu đồ với số lượng lớn các thùng màu sẽ không chỉ làm tăng chi phí tính toán mà còn không phù hợp để xây dựng các sơ đồ chỉ mục hiệu quả cho cơ sở dữ liệu hình ảnh.
Khi cơ sở dữ liệu ảnh chứa một số lượng lớn hình ảnh, sự phân biệt so sánh biểu đồ sẽ bão hòa. Để giải quyết vấn đề này, kỹ thuật đối sánh biểu đồ được giới thiệu 10. Ngoài ra, biểu đồ màu không xem xét thông tin không gian của các pixel, do đó các ảnh rất khác nhau có thể có sự phân bố màu sắc 12 tương tự. Để tăng khả năng phân biệt, một số cải tiến đã được đề xuất để kết hợp thông tin không gian.
Một cách tiếp cận đơn giản là chia ảnh thành các vùng con và tính toán biểu đồ cho từng vùng con đó. Như đã giới thiệu ở trên, việc phân chia có thể đơn giản như một phân vùng hình chữ nhật, hoặc phức tạp như một vùng hoặc thậm chí là phân đoạn đối tượng [26, 27, 28, 29]. Việc tăng số lượng các vùng con làm tăng thông tin về vị trí nhưng cũng làm tăng bộ nhớ và thời gian tính toán. Do thông tin không gian bổ sung của nó, các véc tơ liên kết màu cung cấp kết quả tra cứu tốt hơn biểu đồ mầu, đặc biệt đối với những ảnh có màu đồng nhất.
Ngoài ra, đối với cả biểu đồ màu và biểu diễn véc tơ liên kết màu, không gian màu HSV cung cấp kết quả tốt hơn không gian CIEL*u*v* và CIEL*a*b*. Biểu đồ mầu tương quan 13 1. Đặc trưng màu Màu sắc không chỉ phản chiếu chất liệu bề mặt mà còn thay đổi đáng kể theo sự thay đổi của độ chiếu sáng, hướng của bề mặt và hình dạng quan sát của máy ảnh [30, 31]. Sự thay đổi này phải được tính đến.
Tuy nhiên, sự bất biến đối với các yếu tố môi trường này không được xem xét trong hầu hết các màu sắc được giới thiệu ở trên. Gần đây, biểu diễn bất biến màu đã được giới thiệu trong tra cứu ảnh dựa trên nội dung. Một tập hợp các bất biến màu cho tra cứu đối tượng được suy diễn dựa trên mô hình phản xạ đối tượng của Schafer. Biểu diễn bất biến phản xạ, hình dạng và độ chiếu sáng dựa trên véc tơ tỉ lệ xanh lam (r/b, g/b, 1) được đưa ra.
Trong 31, đặc trưng bất biến hình học bề mặt được cung cấp. Mô men màu bất biến này được áp dụng để tra cứu ảnh, có thể mang lại khả năng chiếu sáng, và biểu diễn hình học độc lập với nội dung màu của hình ảnh, nhưng cũng có thể dẫn đến mất một số khả năng phân biệt giữa các hình ảnh. Đặc trưng kết cấu 14 1. Đặc trưng Tamura 1.