Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT HẬU THUỘC ĐỊA 1. Giới thiệu chung về lý thuyết hậu thuộc địa Trong suốt thời gian cai trị của chế độ thực dân, các nước thuộc địa đã đấu tranh chống lại sự thống trị của chúng bằng nhiều hình thức kể cả chủ động và bị động. Vào thế kỉ XIX, ở cả ba châu lục như châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh, các cuộc phản kháng mới phát triển thành phong trào chính trị chặt chẽ, nhằm đánh đuổi những kẻ thống trị châu Âu đã định cư trên đất nước của họ trong một thời gian dài ra khỏi bờ cõi dân tộc. Trải qua các cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, cuối cùng, họ đã giành thắng lợi vẻ vang trên khắp các mặt trận quân sự vào thế kỷ XX.
Khi chủ quyền cuối cùng đã đạt được, các quốc gia này chuyển từ tình trạng thuộc địa sang tự trị hậu thuộc địa. Như mọi người thường quan niệm, sự độc lập về chính trị sẽ kéo theo độc lập về văn hóa, vì hai phạm trù này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập về chính trị, các nước thuộc địa phải đương đầu với hàng loạt các khó khăn. Một trong những khó khăn mà họ vấp phải chính là nền văn hóa dân tộc chịu ảnh hưởng khá sâu đậm từ nền văn hóa thống trị của thực dân trong một thời gian dài, những giá trị văn hóa truyền thống một thời đã bị phai mờ dưới chế độ cai trị của thực dân.
Điều này cản trở rất lớn việc tạo dựng nền văn hóa độc lập, bình đẳng của các quốc gia hậu thuộc. Từ thực trạng trên, song song với việc củng cố lại các lĩnh vực khác như chính trị, xã hội, kinh tế,… các nước thuộc địa bắt tay ngay vào hành trình “tự định nghĩa về văn hóa”. Từ đó, nghiên cứu bản sắc của các nước cựu thuộc địa trở thành đề tài nóng bỏng nhất mọi thời đại. Nhưng để xác định được hướng đi đúng đắn, cần có một “kim chỉ nam” phù hợp.
Một thực tế đáng lưu tâm bấy giờ đó là các lý thuyết phương Tây trước đó chiếm vị trí độc tôn trong công tác nghiên cứu thì giờ đây nó lại không thể giúp họ khai thác hết các tính chất phức tạp cũng như những tiềm năng ẩn giấu bên trong nền văn hóa của các nước cựu thuộc địa. Thực tế đó 13 thôi thúc các nhà nghiên cứu phải tìm ra một dạng thức mới phù hợp với hoàn cảnh hiện tại hơn. Đứng trước yêu cầu cấp thiết đó, các lý thuyết gia không thể “ngoảnh mặt làm ngơ”, họ bắt đầu “xông trận”. Mặc dù đến từ khắp các quốc gia trên thế giới nhưng Edward Said (Palestine), Gayatri Chakravorty Spivak và Homi K.
Bhabha (Ấn Độ), Frantz Fanon (Martinique – trước đây là thuộc địa của Pháp và bây giờ đã được sát nhập vào nước Pháp), Trịnh Thị Minh Hà (Việt Nam), Ian Adam (Canada), Helen Tiffin (Úc),… đã gặp nhau ở một lý tưởng chung: xây dựng nên chủ nghĩa hậu thuộc địa. Một điều đáng lưu ý là các lý thuyết gia này hầu hết đến từ các nước thuộc địa và thuộc địa định cư trước đó. Có thể nói, điều này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc tháo gỡ những khúc mắc của việc nghiên cứu văn hóa hậu thuộc địa nói chung và sự tồn vong của bản sắc dân tộc nói riêng. Những người đặt nền móng đầu tiên cho lý thuyết hậu thuộc địa có thể kể đến như Aimé Césaire với Discourse on Colonialism (Diễn ngôn về chủ nghĩa thực dân) (1950), Frantz Fanon với hai tác phẩm Black Skin, White Masks (Da đen, mặt nạ trắng) (1952) và The wretched of the Earth (Những khốn khổ trên trái đất) (1961), Albert Memmi với The Colonizer and the Colonized (Thực dân và thuộc địa) (1965)… Từ những nền tảng vững chắc đó, lý thuyết hậu thuộc địa tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong lịch sử nhân loại.
Nhắc đến lý thuyết hậu thuộc địa không thể không nhắc tới Edward Said (1935 – 2003). Tác phẩm làm nên tên tuổi của ông là cuốn Orientialism (Đông phương học) (được xuất bản vào năm 1978). Trong tác phẩm này, Said đã giải mã quyền lực giữa phương Đông và phương Tây thông qua các hình thức diễn ngôn, từ đó, vạch trần bản chất thâm độc của chủ nghĩa thực dân. Ngoài ra, ông còn dùng Đông phương học để bác bỏ Đông phương học của các chính trị gia phương Tây trước đó (điều này sẽ được làm rõ hơn ở phần sau).
Đây có thể được xem là một bước đột phá quan trọng của lý thuyết hậu thuộc địa từ trước đến nay. Nhờ vậy, ông được giới học thuật xem là ông tổ của thuyết hậu thuộc địa và công trình vĩ đại của 14 ông đã tạo ra nhiều cảm hứng sáng tác cho các học giả suốt hơn hai thập kỷ sau đó: Gayatri Chakravorty Spivak với The Postcolonial Critic (Phê bình hậu thuộc địa) (1990), Homi K. Bhabha với The Location of Culture (Vị trí của nền văn hóa) (1994), Iain Chambers, Lidia Curti với The Post-colonial Question (Câu hỏi về hậu thuộc địa) (1996), Leela Gandhi với Postcolonial Theory: A Critical Introduction (Lý thuyết hậu thuộc địa: Một sự giới thiệu mang tính chất phê bình) (1998), Robert J. Young với Postcolonialism: A very short introduction (Thuyết hậu thuộc địa: Giới thiệu ngắn gọn) (2001), La Paperson với The Postcolonial Ghetto (Người da đen hậu thuộc địa) (2010),… Trước khi thuật ngữ “hậu thuộc địa” ra đời, người ta dùng “Khối thịnh vượng chung” (Commonwealth) và “Thế giới thứ ba” (Third World) để chỉ chung cho các nước cựu thuộc địa đương thời.
Sau này, nhờ sự củng cố lại của ba tác giả Bill Ashcroft, Gareth Griffiths và Helen Tiffin (trong cuốn The Empire Writes Back: Theory and Practice in Post-Colonial Literatures (Đế chế viết lại: Lý thuyết và thực tiễn trong văn học hậu thuộc địa) (1989), thuật ngữ “hậu thuộc địa” được sử dụng một cách rộng rãi hơn và dần thay thế cho cả hai thuật ngữ trước đó. Từ những năm 1980, hậu thuộc địa đã đưa ra một văn bản nhằm thay đổi những cách hiểu thống trị về mối quan hệ giữa phương Tây (Western) và phi phương Tây (non – Western). Trước đây, thế giới phương Đông chỉ được nhìn nhận qua lăng kính chủ quan của phương Tây. Do đó, thế giới phương Đông chỉ là những hình ảnh bị bóp méo, xuyên tạc, sai sự thật.
Khi người phương Tây nhìn vào thế giới phi phương Tây thì những gì họ thấy thường là một hình ảnh phản chiếu của bản thân và các giả định của riêng họ hay cái cách mà họ cảm nhận và nhận thức về mình luôn có một vị trí cao hơn so với những gì có trên thực tế. Chính vì vậy, điều này được hậu thuộc địa đưa ra xem xét và đánh giá lại. Việc làm ấy mang lại một ý nghĩa nhất định, đó là sẽ làm đảo ngược trật tự thế giới. Trong cuốn Postcolonialism: A Very Short Introduction (Thuyết hậu thuộc địa: Giới thiệu ngắn gọn), Robert J.
Young đã viết : “Nếu bạn là một người 15 không tự nhận mình là người phương Tây, hoặc không hoàn toàn là người phương Tây mặc dù bạn sống ở phương Tây, hoặc một người là một phần của nền văn hóa và là người chưa bị loại khỏi tiếng nói thống trị của mình thì hậu thuộc địa sẽ cung cấp cho bạn những cách nhìn khác nhau, một thứ ngôn ngữ và một nền chính trị mà trong đó bạn sẽ có những quyền lợi từ đầu cho đến cuối” [14, tr. Đúng như vậy, hậu thuộc địa khẳng định quyền của tất cả mọi người sống trên trái đất này. Mặc dù thế giới ngày ấy và bây giờ luôn tồn tại những bất công và nhiều sự khác biệt giữa người phương Tây và phi phương Tây. Sự phân chia giữa phương Tây và những phần không thuộc về phương Tây đã được thực hiện vào thế kỷ XIX bởi sự mở rộng của các hoàng đế châu Âu.
Và kết quả là 9/10 toàn bộ bề mặt trái đất đã được kiểm soát bởi người châu Âu gốc và quyền lực [14, tr. Nhờ vào lý thuyết nhân chủng học, thực dân và đế quốc đã hợp pháp hóa sự cai trị của mình trên các nước thuộc địa. Thực chất, cái lõi của thuyết này là các khái niệm về chủng tộc. Trong những thuật ngữ đơn giản, mối quan hệ giữa phương Tây và phi phương Tây gợi cho ta ý nghĩ về chủng tộc da trắng và phi da trắng.
Nền văn hóa của những người da trắng được coi (và vẫn còn) là nền tảng cho những ý tưởng luật pháp, khoa học, kinh tế, ngôn ngữ, nghệ thuật, … hợp pháp. Đến nay, thuyết nhân chủng học đóng vai trò ngày càng gia tăng đối với các dân tộc trên thế giới bị coi là thấp kém, hạ đẳng, không có khả năng tìm kiếm tiềm năng của chính mình, phần lớn các nước này đang ở trong tình trạng lệ thuộc và ở một vị thế bất bình đẳng về kinh tế so với các nước châu Âu và Bắc Mỹ. Hậu thuộc địa liên quan trực tiếp đến những vấn đề đang tồn tại ở các quốc gia thuộc ba lục địa không phải là phương Tây (châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh). Hậu thuộc địa là một quan điểm chính trị và triết học tích cực, bởi nó đấu tranh cho sự khác biệt, và tiếp tục cổ xúy cho những cuộc đấu tranh chống lại thực dân trong quá khứ.
Nó không chỉ khẳng định quyền lợi của người châu Phi, châu Á, châu Mỹ Latinh mà còn nhấn mạnh sức mạnh của các nền văn hóa, các nền văn hóa đang can thiệp vào và biến đổi xã hội phương Tây. Nó làm rối loạn trật tự của thế giới, xóa bỏ quyền lực, từ chối việc thừa nhận tính ưu việt tuyệt đối của văn hóa 16 phương Tây. Mục đích cuối cùng của thuyết hậu thuộc địa là hướng tới quyền bình đẳng và hạnh phúc cho tất cả mọi người trên trái đất này. Thuyết hậu thuộc địa ra đời nhằm trả lại những tiếng nói đã bị cách ly, bị loại trừ khỏi xã hội hoặc những phát ngôn câm lặng bấy lâu nay của các nước thuộc địa hoặc của tầng lớp dưới.
Bên cạnh việc chống lại chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa trung tâm châu Âu, hậu thuộc địa còn là một sự kiện cụ thể và có tính chất lịch sử để mô tả một nửa thứ hai của thế kỷ XX nói chung, như là một giai đoạn sau của thời kỳ hoàng kim của chủ nghĩa thực dân. Chung quy lại, hậu thuộc địa nghiên cứu về những mối tương tác giữa các quốc gia châu Âu và xã hội thuộc địa thời hiện đại. Phạm vi nghiên cứu hậu thuộc địa ngày càng mở rộng.