Chương 1: Cơ sở lí luận Chương này trình bày những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài như: 1. Lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ 2. Lỗi về câu, quan điểm về lỗi câu, các loại lỗi câu. Lí thuyết về văn hoá, giao thoa văn hoá và vấn đề học ngoại ngữ.
Chương 2: Thực trạng mắc lỗi về câu tiếng Việt trên văn bản viết của du học sinh Lào tại Đại học Thái Nguyên Chương này trình bày 2 nội dung lớn: 1. Kết quả khảo sát; 2. Phân loại các lỗi về câu trên văn bản viết của sinh viên Lào. Chương 3: Nguyên nhân mắc lỗi viết câu tiếng Việt của sinh viên Lào và hƣớng sửa lỗi Chương này trình bày 2 nội dung lớn: 1) Nguyên nhân mắc lỗi viết câu TV của sinh viên Lào.
2) Hướng sửa lỗi viết câu TV cho sinh viên Lào. 9 c NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN Để thực hiện đề tài này, Luận văn đã tiếp thu có chọn lọc một số lí thuyết của một số nhà nghiên cứu đi trước để làm căn cứ lí luận, đó là: 1. Lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ; 2. Lí thuyết về câu, quan điểm về lỗi câu, các kiểu lỗi câu; 3.
Lí thuyết về văn hoá, giao thoa văn hoá và vấn đề học ngoại ngữ. Tổng quan lí thuyết về lỗi trong học ngoại ngữ 1. Khái niệm về lỗi sử dụng ngoại ngữ, những quan niệm khác nhau về lỗi trong học ngoại ngữ 1. Khái niệm lỗi sử dụng ngoại ngữ Đã có khá nhiều định nghĩa cũng như quan niệm về lỗi sử dụng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ 2 – L2).
Xin dẫn 2 định nghĩa được nhiều người nhắc đến: Dẫn theo tác giả Allwright, D.Bailey “Lỗi của người học ngoại ngữ là tạo ra một sản phẩm hình thức ngôn ngữ đi lệch chuẩn của hình thức ngôn ngữ đúng”. Dẫn theo tác giả Brown, H.D, “Lỗi là hiện tượng vi phạm quy tắc ngữ pháp của người bản ngữ, phản ánh năng lực ngôn ngữ trung gian của người học”. Luận văn này theo quan điểm của nhóm tác giả thứ nhất về khái niệm lỗi sử dụng ngoại ngữ của người học. Trong khuôn khổ luận văn này, để xác định tiếng Việt chuẩn, chúng tôi dựa vào những tri thức về chính âm, chính tả, ngữ pháp tiếng Việt được GS.TS Nguyễn Đức Dân trình bày trong cuốn “Giáo trình tiếng Việt thực hành”, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2002.
Những quan niệm khác nhau về lỗi người học sử dụng L2 Đã có những quan niệm khác nhau, thậm chí là trái chiều nhau về hiện tượng vi phạm lỗi của người học L2. Dưới đây là một số quan điểm tiêu biểu: a) Lỗi theo quan điểm hành vi luận: Thuyết hành vi được các nhà tâm lí học như J. Skinner khởi xướng từ những năm 60 của thế kỉ trước. Ellis, R là ba nhà ngôn ngữ học tiêu biểu theo quan điểm hành vi luận khi xem xét lỗi của người học ngoại ngữ.
Theo thuyết hành vi, thói quen có hai đặc tính cơ bản: 1) Thói quen thể hiện qua hành vi, cử chỉ, động tác và có thể quan sát được giống như có thể quan sát những sự vật hiện hữu trong thế giới khách quan; 2) Thói quen có tính tự động, máy móc. Vì có tính tự động, máy móc cho nên một khi thói quen đã được xác lập thì nó rất khó bị tiêu diệt khi có môi trường tạo lập thói quen mới tương tự. Các nhà tâm lí học hành vi luận cho rằng, việc tạo lập thói quen có thể thực hiện bằng hai cách: 1) Thông qua cơ chế bắt chước, mô phỏng; và 2) Thông qua cơ chế khuyến khích, tăng cường. Áp dụng hai nguyên lí này trong dạy - học ngoại ngữ, người dạy có thể giúp người học tạo lập kích thích, phản ứng cho đến khi trở thành tự động.
Ví dụ, dạy và luyện phát âm chẳng hạn, người học thực hiện phản ứng khi được nhận kích thích từ bên ngoài (chẳng hạn như nghe được âm nào đó do giáo viên phát ra), họ sẽ bắt chước đến khi âm được luyện trở thành kĩ năng, tức có thể phát ra như một thói quen khi cần. Lí thuyết hành vi là lí thuyết của việc học nói chung và học ngoại ngữ nói riêng. Hành vi luận khẳng định rằng việc học ngoại ngữ (L2) là việc tạo lập những thói quen mới khi người học đã có sẵn những thói quen cũ của tiếng mẹ đẻ (L1). Vì vậy, quá trình hình thành thói quen mới khi sử dụng L2 tất yếu sẽ chịu sự tác động và ảnh hưởng của thói quen cũ từ L1 mà lí do đã nói ở trên 11 c (thói quen hay phản ứng cũ rất khó bị loại bỏ triệt để nếu trong quá trình tạo thói quen mới có điều kiện tương tự).
Từ cách nhìn này, các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm của lí thuyết hành vi luận đã cho nguyên nhân mắc lỗi của người học khi học ngoại ngữ chính là do sự chuyển di thói quen trong sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ. Một điều cực đoan của các nhà hành vi luận là đã xem lỗi sử dụng L2 của người học là một cái xấu do người học thiếu tập trung, lơ đãng trong học tập và không biết ngăn ngừa sự can thiệp của thói quen cũ đã có khi sử dụng L1. Vì xem lỗi là một biểu hiện của thói xấu trong quá trình thụ đắc L2 nên các nhà hành vi luận nhấn mạnh tới việc phải giúp người học L2 sửa chữa, loại trừ lỗi trước khi nó trở thành thói quen. Hành vi luận mới chỉ nhìn thấy mặt trái của lỗi biểu hiện trên bề mặt sản phẩm của người học, cho lỗi hoàn toàn là trách nhiệm của người học.
b) Lỗi theo quan điểm phân tích, đối chiếu Vì ra đời trên cơ sở của trường phái tâm lí hành vi luận nên cái nhìn của các nhà ngôn ngữ học đối chiếu về lỗi của người học L2 tuy có vài điểm trùng với quan điểm của các nhà hành vi luận nhưng vẫn có những điểm khác biệt. Nếu như hành vi luận có xu hướng chỉ tập trung vào mặt tiêu cực của hành vi phạm lỗi của người học và chủ trương tìm mọi cách loại trừ lỗi một cách triệt để bằng cách không cho thói quen cũ trong sử dụng L1 can thiệp vào quá trình hình thành thói quen mới trong L2, thì ngôn ngữ học đối chiếu có cái nhìn rộng hơn, xem xét lỗi trên hai bình diện: ngôn ngữ và tâm lí. Các nhà nghiên cứu theo quan điểm phân tích, đối chiếu cho rằng, không nên mắc lỗi trong quá trình học ngoại ngữ. Cần phải nghiêm khắc sửa chữa lỗi khi thụ đắc L2.
Theo các nhà ngôn ngữ học phân tích đối chiếu, nguyên nhân chính gây ra lỗi của người học ngoại ngữ là sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ, tức khác biệt giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ 2 - ngoại ngữ mà người học đang 12 c tiến hành thụ đắc. Vì thế, khi dạy - học ngôn ngữ thứ hai, cần phải so sánh, đối chiếu hai ngôn ngữ để tìm ra sự khác biệt giữa chúng, trên cơ sở đó giải thích, dự đoán các lỗi mà người học đã hoặc có thể mắc phải. Và một khi đã tìm ra nguyên nhân mắc lỗi của người học thì người dạy có thể tìm ra hướng khắc phục các lỗi cho họ. Tóm lại, khác với các nhà ngôn ngữ học theo quan điểm hành vi luận hầu như chỉ quan tâm đến vai trò của thói quen khi phân tích nguyên nhân mắc lỗi của người học, các nhà ngôn ngữ học đối chiếu đã có cái nhìn rộng hơn khi xem xét lỗi của người học L2.
Điều này thể hiện ở chỗ các nhà ngôn ngữ học đối chiếu đã đứng trên cả bình diện tâm lí (lỗi của người học một phần do thói quen) và bình diện ngôn ngữ (người học mắc lỗi một phần do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ) để xem xét lỗi. Tuy nhiên, dường như các nhà ngôn ngữ học đối chiếu có vẻ nghiêng về lí do thứ hai hơn, khi họ khẳng định “Tài liệu hiệu quả nhất là các tài liệu xây dựng trên cơ sở miêu tả một cách khoa học ngôn ngữ đích (tức L2 – Tóng kẹo), so sánh một cách chi tiết với hệ thống ngôn ngữ mẹ đẻ của người học”. c) Lỗi theo quan điểm giao thoa văn hoá Trước khi tìm hiểu lỗi trên quan điểm giao thoa văn hoá, cần hiểu khái niệm Văn hoá. Cần phải nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về Văn hoá.
Văn hóa (culture), theo Damen, “…là những kiểu dạng hay mô hình sinh sống mà con người biết và cùng chia sẻ; những kiểu dạng, mô hình diễn ra hàng ngày trong tất cả các lĩnh vực tương tác xã hội; văn hóa là cơ chế thích nghi cơ bản của con người”. Tác giả Lê Xảo Bình [6; tr. 11] đã đưa ra con số là hơn 160. Theo cuốn Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, H.
2000, khái niệm văn hoá được hiểu như sau: 13 c - Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; - Những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống tinh thần- nói một cách tổng quát. - Tri thức kiến thức khoa học; - Trình độ cao trong sinh hoạt văn hoá xã hội, biểu hiện của văn minh; - Nền văn hoá của một thời kì lịch sử cổ xưa được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau. Luận văn này tạm theo quan điểm của nhà nhân học người Anh, EB. Tác giả quan niệm: “Văn hoá hay văn minh hiểu theo nghĩa dân tộc bao quát của nó, là một tổng thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ năng lực và tập quán nào được lĩnh hội bởi con người với tư cách là thành viên của xã hội”.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là một loại hình tương tác xã hội cơ bản nhất của con người. Do đó, hoạt động ngôn ngữ tất yếu chịu sự chi phối của yếu tố văn hoá và ngược lại văn hoá cũng có tác động trở lại đối với ngôn ngữ. Đúng như tác giả Lê Xảo Bình đã khẳng định: “Ngôn ngữ là sản phẩm tín hiệu phản ánh hoạt động của con người, vì thế hoạt động của con người ảnh hưởng đến mọi mặt của ngôn ngữ, kể cả cách quan niệm, tư duy, và diễn đạt ngôn ngữ…”. Luận văn này không nhằm mục đích tìm hiểu mối quan hệ, ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn hoá và ngôn ngữ mà chỉ nhấn mạnh lỗi của người học ngoại ngữ theo quan điểm giao thoa văn hoá.