ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm nhiễm đường sinh dục là vấn đề cần được quan tâm đối với sức khỏe người phụ nữ vì viêm nhiễm đường sinh dục chiếm trên 80% các bệnh phụ khoa và nó là nguyên nhân gây ra nhiều rối loạn và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày. Trong đó, viêm nhiễm đường sinh dục dưới (VNĐSDD) là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đặc biệt ở những nước đang phát triển và chậm phát triển [14], [52], [69]. Theo Quỹ Dân số Liên hiệp Quốc, mỗi năm toàn cầu có khoảng 340 triệu trường hợp mắc VNĐSDD mới, ước tính nhiễm mới tăng hơn 1 triệu người/năm có nghĩa là cứ 7 người ở độ tuổi sinh đẻ thì có hơn 1 người bị nhiễm [36]. Tại Việt Nam, một trong những thách thức không nhỏ của chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) là tình trạng VNĐSD còn khá phổ biến [41] [46].
Nghiên cứu trên 960 phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện phụ sản trung ương (2011) cho thấy có tới 798 người mắc bệnh VNĐSDD, chiếm tỷ lệ rất cao 83,1% [10]. Theo số liệu điều tra của Lê Thị Oanh - Đại học Y Hà Nội (2009) cho thấy tỷ lệ VNĐSD của phụ nữ ở các khu vực Hà Nội, vùng núi Nghệ An, đồng bằng Hải Dương và nông thôn ven biển là rất cao, chiếm tỷ lệ từ 42%- 64% [30]. Các nghiên cứu cho thấy, VNĐSDD chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhóm các bệnh VNĐSD vì nó là cửa ngõ của sự xâm nhập vào đường sinh sản. Bệnh VNĐSDD có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo và thực hành vệ sinh cá nhân của phụ nữ yếu kém là nhóm nguyên nhân chủ yếu [28], [15].
Ngoài ra, các nguyên khác như yếu tố kinh tế, môi trường làm việc và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cũng đáng quan tâm [21]. ộng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống không chỉ của người phụ nữ mà còn của người chồng vì phần lớn các bệnh này có thể lây nhiễm. Nhưng nguy hiểm hơn nữa VNĐSDD có thể dẫn tới vô sinh, sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh làm cho người phụ nữ mất đi thiên chức làm mẹ. Hơn nữa, bệnh lâu ngày dẫn đến nhiễm khuẩn vùng tiểu khung, viêm tử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 2 cung, viêm phần phụ mạn tính,…thậm chí dẫn đến ung thư cổ tử cung.
Đặc biệt, VNĐSDD còn tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh lây truyền qua đường tình dục phát triển như lậu, giang mai, HIV/AIDS, viêm gan B…. Thạch Thất là một huyện thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây thành phố Hà Nội. Hàng năm, Trung tâm Y tế huyện phối kết hợp với Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện tổ chức khám và điều trị phụ khoa cho chị trong độ tuổi sinh đẻ tại 23 Trạm y tế xã. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm Y tế huyện, năm 2013 tỷ lệ VNĐSD của phụ nữ độ tuổi 15 - 49 trung bình của huyện là 42,8%.
Kim Quan là một xã bán sơn địa dân cư chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, năm 2013 tỷ lệ mắc bệnh VNĐSD của phụ nữ 15 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ 57% cao nhất so với toàn huyện. Yếu tố nào ảnh hưởng đến VNĐSDD ở phụ nữ nơi đây vẫn là câu hỏi để ngỏ. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tại xã Kim Quan - Thạch Thất - Hà Nội và một số yếu tố liên quan” Với 2 mục tiêu như sau: 1. ỷ lệ ễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tại xã Kim Quan- Thạch Thất - Hà Nội.
ột số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tại xã Kim Quan - Thạch Thất - Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Khái quát về bệnh viêm nhiễm đƣờng sinh dục dƣới 1. Các khái niệm, phân loại, tác nhân gây bệnh * Khái niệm: Viêm nhiễm đường sinh dục là các viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục bao gồm cả viêm nhiễm do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm khác không lây qua quan hệ tình dục cả ới đều có thể bị mắc [13], [28], [70].
* Phân loại - Dựa vào vị trí giải phẫu, người ta chia nhiễm khuẩn đường sinh dục ra làm 2 loại: + Viêm sinh dục dưới ) + Viêm sinh dục trên ): Viêm niêm mạc tử cung và viêm phần phụ - Theo cơ chế lây truyền: Gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, các nhiễm khuẩn nội sinh và các nhiễm khuẩn do VSV xâm nhập từ ngoài vào thông qua đường tình dục. - Theo căn nguyên gây bệnh: Viêm nhiễm do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng. - Theo hình ảnh tế bào bệnh học: Viêm cấp và viêm mạn [17]. * Sinh lý bệnh của nhiễm khuẩn sinh dục: Nhiễm khuẩn sinh dục không chỉ là vấn đề vi khuẩn, đó là tương quan, kết hợp của 3 yếu tố: - Vật chủ: Cơ quan sinh dục nữ với các phương tiện bảo vệ.
- Các tác nhân gây bệnh: vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng. - Yếu tố lây truyền Vật chủ Bình thường âm đạo dễ dàng tự chống lại các tác nhân gây bệnh bằng nhiều cơ chế. Các tế bào biểu mô và lactobaccilli (trực khuẩn Doderlein) duy trì pH âm đạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 4 dưới 5,5 không thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển [56]. Mặt khác ở niêm mạc âm đạo có dịch thấm từ mạng tĩnh mạch, bạch mạch có sẵn tính bảo vệ tự nhiên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 5 Các tác nhân gây bệnh: gồm 2 nhóm - Tác nhân gây nhiễm khuẩn đặc hiệu: Các tác nhân này nói chung lây truyền bằng tiếp xúc sinh dục và gây ra các thương tổn đặc hiệu, bao gồm. + Chlamydia trachomatis: Gây viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm vòi trứng, bệnh hột xoài, hội chứng đi tiểu khó, loạn sản cổ tử cung, sảy thai tự nhiên. + Trichomonas Vaginalis: Gây bệnh viêm âm đạo, viêm niệu đạo. + Nấm Candida: Gây bệnh viêm âm hộ, âm đạo.
+ Neisseria gonorhoeae: Gây viêm âm đạo, viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng, viêm kết mạc, hội chứng nhiễm khuẩn nước ối, nhiễm lậu cầu toàn thân. + Gardnerella vaginalis: Gây viêm âm đạo. + HIV: Gây hội chứng suy giảm miễn dịch (AIDS). - Tác nhân gây nhiễm khuẩn không đặc hiệu: Mầm bệnh không gây ra thương tổn đặc hiệu, có thể tìm thấy ở cổ tử cung - Âm đạo trong trạng thái bình thường với số lượng ít, khi môi trường âm đạo ở trạng thái không bình thường thì các tác nhân này mới có cơ hội gây nên tình trạng viêm nhiễm tại đường sinh dục.
Yếu tố lây truyền Điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển là mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, vệ sinh không đúng cách khi có kinh nguyệt, không vệ sinh trước và sau khi giao hợp. Do kiến thức, thái độ và thực hành của bản thân người PN cũng như người chồng về phòng ngừa VNĐSD. Yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn đặc hiệu chủ yếu là do lây truyền qua đường tình dục, nhất là có quan hệ với người mang bệnh. Yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn không đặc hiệu có thể gây ra từ phía dịch vụ y tế khi làm các thủ thuật sản phụ khoa không đảm bảo điều kiện vô khuẩn.
Các yếu tố trong cơ thể người bệnh bao gồm: - Dị dạng đường sinh dục. - Đặt dụng cụ tử cung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 6 - Các khối u lành tính hay ác tính. - Đái tháo đường, thiểu năng estrogen, suy giảm miễn dịch.
- Thể trạng suy kiệt, dinh dưỡng kém. - Môi trường sống, nhà ở, nguồn nước, ánh sáng, bụi. - Sự thay đổi tâm sinh lý: quan hệ tình dục, có thai. * Đặc điểm viêm nhiễm VNĐSD: Là nhóm bệnh hay gặp (80% bệnh phụ khoa có liên quan VNĐSD), thường gặp độ tuổi sinh đẻ.
Tất cả các bộ phận của đường sinh sản đều có thể bị viêm nhiễm. Có thể gặp cấp hoặ (mạn tính hay gặp nhiều hơn). Gây hậu quả đối với nữ giới nhiều hơn và nặng nề hơn [8]. Viêm nhiễm đường sinh dục bao gồm rất nhiều vấn đề nhưng trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến VNĐSDD ở PN có chồng.
Đặc điểm viêm nhiễm đường sinh dục dưới * Cấu tạo đường sinh dục dưới bao gồm: Âm hộ, âm đạo và phía ngoài cổ tử cung (CTC). Đặc điểm giải phẫu và liên quan âm đạo - cổ tử cung [7] Viêm sinh dục dưới là viêm đường sinh dục từ âm hộ đến cổ tử cung dưới vòng bám âm đạo gồm: viêm cổ tử cung, viêm âm hộ, viêm âm đạo và tuyến sinh dục. Cụ thể gồm: Viêm âm hộ, âm đạo do tạp khuẩn; viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ c 7 cung do trichomonasvaginalis; viêm âm đạo do nấm candida albricans, trobicalis, krusei; viêm sinh dục do lậu; viêm tuyến Bartholein và viêm loét cổ tử cung. Viêm nhiễm đường sinh dục dưới thường biểu hiện bằng 4 triệu chứng lâm sàng chính như: Khí hư, ngứa rát, viêm loét và đau bụng dưới.
Trong đó khí hư và viêm loét là hai triệu chứng quan trọng nhất [38] - Khí hư: Khi bị viêm niêm mạc đường sinh dục phản ứng lại các tác nhân gây bệnh bằng phản ứng viêm. Khí hư chính là dịch viêm của đường sinh dục. Số lượng, màu sắc và mùi khí hư khác nhau vì nó phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng tác nhân gây bệnh và mức độ viêm nhiễm. Ngứa rát khó chiụ khi quan hệ tình dục, hay tự nhiên.
Viêm loét đường sinh dục dưới biểu hiện lâm sàng là tình trạng tấy đỏ, ngứa và có thể loét. * Chẩn đoán Hiện nay, chẩn đoán VNĐSDD được xác định thông qua khám lâm sàng để xác định vị trí tổn thương và cận lâm sàng để chẩn đoán xác định cụ thể từng dạng bệnh VNĐSDD. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, những hạn chế riêng và có phạm vi ứng dụng khác nhau [42]. - Về lâm sàng có 2 cách tiếp cận: Chẩn đoán theo căn nguyên gây bệnh và chẩn đoán theo hội chứng.
Phương pháp chẩn đoán lâm sàng có ưu điểm là dễ áp dụng nhưng độ chính xác thấp, chỉ đạt khoảng 40 - 60% vì nó phụ thuộc vào kiến thức, kinh nghiệm của người thầy thuốc.