Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về nông thôn và xây dựng NTM 1. Lý luận về nông thôn 1. Khái niệm Nông thôn là một hệ thống xã hội, một cộng đồng xã hội có những đặc trưng riêng biệt như một xã hội nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội.
Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ở Việt Nam, nông thôn là bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỷ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên. Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau. Khi xem xét khái niệm về nông thôn người ta thường so sánh nông thôn với đô thị.
Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn người ta thường dùng chỉ tiêu mật độ dân số, cụ thể mật độ dân cư ở nông thôn thường thấp hơn so với thành thị. Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp. Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nước nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế.
n 6 Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”. Đặc điểm của nông thôn trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và công nghiệp hóa - Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP.
- Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng. Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện – đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá. - Làn sóng đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá - xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền… đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Mức sống văn hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của nông dân các vùng đô thị hóa nhìn trên tổng thể được nâng lên.
- Do những khó khăn của bản thân nền kinh tế đất nước đang trong quá trình chuyển đổi và những hạn chế chủ quan trong quản lý, điều hành, đô thị hoá ở Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế: Vấn đề quy hoạch, quản lý, sử dụng n 7 đất đai nông nghiệp; Sự chậm chạp, kém hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Sự ùn đọng lao động ở nông thôn; Sự phân tán, chia cắt trong quy hoạch; Hệ lụy về văn hoá, xã hội, môi trường;… 1. Xây dựng NTM 1. Khái niệm NTM Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần đó, NTM có năm nội dung cơ bản.
Một là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại. Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa. Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển.
Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ. Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí [10]. Đơn vị NTM [3] Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới quy định: Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung ương kiểm tra việc công nhận xã nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông n 8 thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới. Như vậy đơn vị nông thôn mới có 3 cấp: - Xã nông thôn mới khi đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; - Huyện nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới; - Tỉnh nông thôn mới khi có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới; 1.
Các nội dung của xây dựng NTM Xây dựng NTM không chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hội trường. mà cái chính là qua cách làm này sẽ tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một NTM năng động hơn. Phải xác định rằng, đây không phải là đề án đầu tư của Nhà nước mà là việc người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần. Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân… từ đó xác định nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án.
Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung chủ yếu trong xây dựng mô hình NTM là: * Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cho cộng đồng - Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai thực hiện, quản lý điều hành các chương trình dự án trên địa bàn thôn. - Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về phát triển nông thôn bền vững. - Nâng cao trình độ dân trí của người dân - Phát triển mô hình câu lạc bộ mô hình khuyến nông nông thôn để giúp nhau ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao động nông nghiệp. n 9 * Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân - Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm: Giữ gìn tính truyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường bền vững.
- Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư, ưu tiên những nhu cầu cấp thiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khai xây dựng: đường làng, nhà văn hóa, hệ thống tiêu thoát nước… - Cải thiện nhà ở cho các hộ nông dân: Tăng cường thực hiện xóa nhà tạm, nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi… * Hỗ trợ người dân phát triển hàng hóa, dịch vụ nâng cao thu nhập Căn cứ điều kiện cụ thể vào mỗi thôn để xác định cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó: - Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi lợi thế, có khối lượng hàng hóa lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hóa về sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước và nhân lực tại địa phương. - Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hàng hóa, nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuật chuyển giao tiến bộ khoa học, tín dụng… - Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý. - Củng cố tăng cường quan hệ sản xuất, tư vấn hỗ trợ việc hình thành và hoạt động của các tổ chức: tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. n 10 * Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp.
- Đối với những nông thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn trắng nghề. - Đối với những nông thôn đó cú nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững. * Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất. - Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thủy lợi nội đồng, chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình kinh tế trang trại thích hợp.
- Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thủy lợi nội đồng. * Xây dựng nông thôn gắn liền với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn.