Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vị trí, vai trò của chăn nuôi gà đẻ trứng trong sự phát triển kinh tế Chăn nuôi gà đẻ trứng cung cấp cho con người nhiều loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Giá trị dinh dưỡng Trứng gà là một tế bào trứng bao gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng và vỏ cứng. Lòng đỏ tập trung chủ yếu các chất dinh dưỡng; lòng đỏ trứng gà có 13,6% đạm, 29,8% béo và 1,6% chất khoáng.
Chất đạm trong lòng đỏ trứng có thành phần các acid amin tốt nhất và toàn diện nhất. Thành phần của lòng trắng trứng đa số là nước, có 10,3% chất đạm, chất béo và rất ít chất khoáng [4, tr 147]. Trứng gà thường chứa nhiều chất dinh dưỡng như protein, lipit, khoáng, vitamin, các acid amin cần thiết và có lợi cho cơ thể. Chính nồng độ các axit amin trong trứng gà được xác định là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị sinh học của các loại thực phẩm khác.
Chất đạm của lòng đỏ trứng chủ yếu thuộc loại đơn giản và ở trạng thái hòa tan; Còn chất đạm của lòng trắng chủ yếu là Albumin và cũng có thành phần các acid amin tương đối toàn diện. Chất đạm của trứng là nguồn cung cấp rất tốt các acid amin cần thiết có vai trò quan trọng cho cơ thể, đặc biệt cần cho sự phát triển cả về cân nặng và chiều cao của trẻ. Trứng có nguồn chất béo là Lecithin vì Lecithin thường có ít ở các thực phẩm khác. Lecithin tham gia vào thành phần các tế bào và dịch thể của tổ chức, đặc biệt là tổ chức não.
Nhiều nghiên cứu cho thấy Lecithin có tác dụng điều hòa lượng cholesterol, ngăn ngừa tích lũy cholesterol, thúc đẩy quá trình phân tách cholesterol và bài xuất các thành phần thu được ra khỏi cơ thể. Trứng cũng chứa lượng cholesterol đáng kể (600mg cholesterol/100g trứng gà), nhưng lại có tương quan thuận lợi giữa Lecithin và cholesterol do vậy Lecithin sẽ phát huy vai trò điều n 5 hòa cholesterol, ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch và đào thải cholesterol ra khỏi cơ thể. Trứng cũng là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng rất tốt. Các chất khoáng như sắt, kẽm, đồng, mangan, iod,.
tập trung hầu hết trong lòng đỏ. Lòng đỏ trứng có cả các vitamin tan trong nước (B1, B6) và vitamin tan trong dầu (Vitamin A, D, K). Trong lòng trắng trứng chỉ có một ít vitamin tan trong nước (B2, B6). Cả trong lòng đỏ và lòng trắng trứng đều có chất Biotin.
Biotin là vitamin B8, tham gia vào chu trình sản xuất năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Trong lòng trắng trứng tươi, chất Biotin kết hợp với một protein là Avidin làm mất hoạt tính của Biotin, tạo phức hợp Biotin - Avidin rất bền vững và không chịu tác dụng của men tiêu hóa. Khi nấu chín, Avidin sẽ được giải phóng khỏi phức hợp Biotin - Avidin. Trứng gà không những tốt cho sức khỏe mà còn có tác dụng làm đẹp, chữa bệnh, … 1.
Giá trị công nghiệp Trứng gà làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, như để làm nguyên liệu chế biến bánh kẹo, mì tôm, mĩ phẩm, đồ ăn nhanh,. Lông gà có thể làm nguyên liệu chế biến chổi lông, quần áo, mũ, … 1. Giá trị kinh tế Gà là loại vật nuôi sớm cho sản phẩm với khả năng sản xuất rất lớn. Một gà hướng trứng sau một năm đẻ có thể thu được 250 - 280 quả (khoảng 15 kg trứng), hoặc từ một gà mái hướng thịt sau một năm đẻ ấp nuôi có thể thu được 180 kg thịt gà Broiler [4, tr 13].
Trong khi nuôi bò một năm cũng chỉ có thể tạo ra một bê con. Các sản phẩm phụ của ngành chăn nuôi gà đẻ trứng như thịt gà (gà loại), lông, phân, phế phẩm của trạm ấp cũng được sử dụng với hiệu quả cao. Chăn nuôi gà đẻ trứng giúp cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển chăn nuôi gà đẻ trứng góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, đẩy mạnh hoàn thành các tiêu chí phát triển nông thôn mới.
Một số vấn đề cơ bản 1. Một số vấn đề cơ bản về chăn nuôi gà đẻ trứng - Sản lượng trứng là số trứng thu được của toàn đàn gia cầm mái trong năm [6, tr 55]. Sản lượng trứng là số trứng thu được trong một thời gian sinh sản của gà, nó phụ thuộc vào cường độ đẻ và thời gian đẻ. Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một khoảng thời gian nhất định, cường độ này được xác định theo khoảng thời gian 30 ngày, 60 ngày hoặc 100 ngày trong giai đoạn đẻ.
- Năng suất trứng là số trứng thu được tính bình quân cho một gia cầm mái trong năm [6, tr 56]. Năng suất trứng là số trứng thu được của mỗi đàn, mỗi mái đẻ trong một khoảng thời gian nào đó có thể là một tháng, một mùa, sau một năm tuổi, sau một năm đẻ hay một đời mái đẻ. - Giá trị sản xuất nông nghiệp là một bộ phận của giá trị sản xuất nói chung (kí hiệu là GO) bao gồm toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sáng tạo ra trong một thời kì nhất định, thường là một vụ hoặc một năm [6, tr 58]. - Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất.
Nó được xác định bằng so sánh kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra [6, tr 66]. - Thực trạng là tình trạng có thật đã và đang diễn ra. Từ thực trạng vấn đề chúng ta cần tiềm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó và đưa ra giải pháp cho thực trạng đó (giải pháp là biện pháp khắc phục những hạn chế và phát triển những điểm mạnh của hiện tượng). Một số lý luận cơ bản về thị trường Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế không thể coi thị trường chỉ là những đại lí, cửa hàng, chợ, siêu thị mặc dù những nơi đó diễn ra quá trình mua và bán.
Chúng ta cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh n 7 tế, là nơi chứa đựng tổng số cung - cầu của hàng hóa (giá cả chính là điểm gặp nhau giữa cung và cầu) và ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có thị trường. * Một số quan điểm cơ bản về thị trường: - Thị trường bao gồm các cá nhân hay tổ chức, thích thú và mong muốn mua một sản phẩm cụ thể nào đó để nhận được những lợi ích thỏa mãn một nhu cầu, hay ước muốn cụ thể và có khả năng tài chính tại một thời điểm nhất định để tiến hành trao đồi này [2, tr 20]. Trong chăn nuôi gà đẻ thì thị trường đóng vai trò quyết định đến xu hướng chăn nuôi của các hộ. Thị trường biến động ảnh hưởng trực tiếp đến người sản xuất và người tiêu dùng.
Đầu vào là những nguồn lực sử dụng trong việc sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ. Thị trường yếu tố đầu vào là thị trường cung cấp các yếu tố hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất. Các yếu tố đầu vào chủ yếu bao gồm: lao động, nguyên vật liệu, nhiên liệu, máy móc thiết bị và các yếu tố đầu vào khác sử dụng trong quá trình sản xuất. Đầu vào của chăn nuôi gà đẻ trứng là: TĂCN, thú y, chuồng trại, vốn, vật tư, lao động, giống, … Đầu ra là những sản phẩm nhằm phục vụ lợi ích và nhu cầu của người tiêu dùng.
Thị trường đầu ra là thị trường để cung cấp các sản phẩm phục vụ người tiêu dùng. Đầu ra của chăn nuôi gà đẻ trứng là trứng gà, sản phẩm phụ, thịt gà. Khái niệm về sản xuất và tiêu thụ ∗ Sản xuất Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để trao đổi trong thương mại.
Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì?, Sản xuất như thế nào?, Sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Đối với chăn nuôi gà đẻ thì cần quan tâm: quy mô, cơ cấu, số lượng chăn nuôi; năng suất, chất lượng trứng; thị trường tiêu thụ trứng, chi phí sản xuất và lợi nhuận sản xuất (hay kết quả và hiệu quả sản xuất), … n 8 ∗ Tiêu thụ, phân phối Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái gì? Sản xuất và kinh doanh như thế nào? Và cho ai? Cho nên việc tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cần được hiểu theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp tiêu thụ sản phẩm là hoạt động chuyển giao sản phẩm cho khách hàng và thu tiền bán sản phẩm cho khách hàng. Là hoạt động chuyển hoá hình thái giá trị của sản phẩm. Giá trị sử dụng → Giá trị (giá cả) → Tiêu dùng.
Người sản xuất → Trung gian thương mại → Người tiêu dùng. Theo nghĩa rộng: Quá trình bao gồm nhiều khâu từ sản xuất đến tiêu thụ. - Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định nhằm thực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá là sản phẩm sản xuất để bán và thu lợi nhuận, đồng thời vòng chu chuyển vốn kinh doanh của nhà sản xuất được hoàn thành, tạo điều kiện tái sản xuất và mở rộng sản xuất, là cơ sở để xác định vị thế của nhà sản xuất trên thị trường. - Thông qua tiêu thụ sản phẩm, gắn người sản xuất với người tiêu dùng: Nhà sản xuất có thể nắm bắt thị hiếu, xu hướng tiêu dùng, yêu cầu về sản phẩm, để từ đó mở rộng hướng kinh doanh, tạo ra những sản phẩm mới, tìm kiếm khả năng và biện pháp thu hút khách hàng.
Giữa phân phối và tiêu thụ luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhờ có hoạt động phân phối mà hoạt động tiêu thụ mới có thể diễn ra được. Mà cũng nhờ có hoạt động tiêu thụ thì hoạt động phân phối mới có mục tiêu để thực hiện mọi hình thức phân phối.