Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thuế bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những công cụ kinh tế được áp dụng nhằm kết hợp giữa mục tiêu điều tiết hành vi gây ô nhiễm và tạo nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) phục vụ phát triển bền vững. Thông qua việc đánh thuế vào các sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động tiêu cực đến môi trường, chính sách thuế định hướng người sản xuất và người tiêu dùng chuyển dịch sang các sản phẩm thân thiện với hệ sinh thái. Tại Việt Nam, Luật Thuế BVMT năm 2010 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác quản lý tài chính - môi trường.

Tuy nhiên, sau hơn một thập kỷ triển khai, hệ thống pháp luật thuế BVMT đã bộc lộ nhiều bất cập:

  • Danh mục đối tượng chịu thuế còn hẹp, chưa bao quát hết các nguồn phát thải phát sinh trên thực tế;
  • Mức thuế suất tuyệt đối chưa phản ánh chính xác mức độ gây ô nhiễm của từng loại hàng hóa;
  • Cơ chế thu nộp, kiểm soát hoàn thuế và quản lý rủi ro còn nhiều khoảng trống dẫn đến nguy cơ thất thu ngân sách và giảm hiệu lực điều tiết hành vi.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về thuế BVMT và pháp luật thuế BVMT;
  2. Khảo sát, phân tích kinh nghiệm xây dựng và thực thi pháp luật thuế BVMT của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
  3. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật thuế BVMT hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam từ năm 2012 đến nay, chỉ ra những thành tựu đạt được cùng những hạn chế, vướng mắc;
  4. Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng thuế BVMT tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật thực định về thuế BVMT tại Việt Nam, thực tiễn thi hành và kết quả thu nộp, quản lý thuế trên thực tế.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, có mở rộng so sánh kinh nghiệm tại Đan Mạch, Hà Lan và Singapore.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát từ ngày Luật Thuế BVMT năm 2010 có hiệu lực (01/01/2012) đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các nền tảng lý thuyết và cơ sở pháp lý chuyên ngành luật kinh tế và luật môi trường:

  • Khái niệm môi trường và BVMT: Tiếp cận theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật BVMT năm 2020 và Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp).
  • Khái niệm và đặc trưng thuế BVMT: Căn cứ Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010, xác định thuế BVMT là thuế gián thu thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường; chỉ thu một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu đầu tiên; mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp.
  • Nguyên tắc "Người gây ô nhiễm phải trả tiền" (Polluter Pays Principle - PPP): Đưa chi phí ngoại ứng tiêu cực về môi trường cấu thành vào giá bán hàng hóa nhằm điều tiết cung - cầu và buộc chủ thể phát thải chịu trách nhiệm tài chính.
  • Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ: Luật BVMT năm 2005 và 2020, Luật Thuế BVMT năm 2010, Nghị định 67/2011/NĐ-CP, Nghị định 69/2012/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT, Thông tư 152/2011/TT-BTC, Thông tư 30/2013/TT-BTC, Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT, Nghị quyết 579/2018/NQ-UBTVQH14, Hiến pháp năm 2013 và các điều ước quốc tế (Nghị định thư Montreal, Nghị định thư Kyoto, Công ước Ramsar, Công ước khung UNFCCC, Công ước CBD...).
  • Tổng quan nghiên cứu kế thừa: Khóa luận tiếp thu có chọn lọc các công trình quốc tế (Withana et al., 2013; Stewart Elgie & Nathalie Chalifour, 2012; Báo cáo EU28 của Eunomia & IEEP, 2016) và các công trình trong nước (Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Huệ, 2021; Luận án tiến sĩ của Đặng Kim Phương, 2022; nghiên cứu của Nguyễn Lâm Trâm Anh & Võ Trung Tín, 2014...).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai:

  • Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với BVMT.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp và khái quát hóa: Sử dụng trong nghiên cứu lý luận, làm rõ bản chất pháp lý của thuế BVMT;
    • Phương pháp phân tích quy phạm và so sánh luật học: Khảo sát văn bản luật thực định, đối chiếu pháp luật Việt Nam với quy định của Đan Mạch, Hà Lan, Singapore;
    • Phương pháp khảo sát, thống kê và tổng kết thực tiễn: Thu thập, phân tích số liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê (Tổng cục Thống kê), báo cáo của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (USEIA) và Cơ quan Môi trường Châu Âu (EEA).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thuế bảo vệ môi trường và pháp luật thuế bảo vệ môi trường

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề mang tính nền tảng về kinh tế - pháp lý:

  • Bản chất và vai trò của thuế BVMT: Khóa luận xác định 4 đặc điểm cốt lõi: (1) là thuế gián thu; (2) đối tượng chịu thuế mang tính đặc thù; (3) chỉ điều tiết một lần ở khâu sản xuất hoặc nhập khẩu đầu tiên; (4) là công cụ kinh tế định hướng hành vi. Về vai trò, thuế BVMT thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi tiêu dùng và sản xuất, hạn chế công nghệ lạc hậu chuyển dịch vào Việt Nam, giảm áp lực quản lý hành chính cho bộ máy nhà nước và tạo nguồn thu bền vững cho NSNN.
  • Khái niệm và cấu trúc nội dung pháp luật thuế BVMT: Là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế trong quá trình kê khai, tính, thu nộp và hoàn thuế. Cấu trúc gồm 3 nhóm nội dung cơ bản: đối tượng chịu thuế, người nộp thuế và căn cứ tính thuế (số lượng hàng hóa và thuế suất tuyệt đối).
  • Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam:
    • Đan Mạch: Áp dụng thuế môi trường từ sớm (thập niên 1990); ban hành thuế các-bon năm 1991 và triển khai năm 1992 (hộ gia đình nộp 7,50 USD/tấn CO2, mở rộng sang doanh nghiệp năm 1993 với 14,30 USD/tấn CO2); đánh thuế thuốc trừ sâu theo đơn vị độc tính (14,36 EUR/đơn vị độc tính); tổng thu thuế môi trường chiếm 4,25% GDP năm 2013; tiên phong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý rủi ro trong thanh tra.
    • Hà Lan: Tập trung vào thuế năng lượng đối với sản phẩm phát thải CO2 (xăng, dầu, than đá, khí đốt, điện), phân hóa thuế suất theo hàm lượng lưu huỳnh; năm 2013 thuế năng lượng chiếm 58,3% tổng thu thuế môi trường; áp dụng phụ thu tài trợ năng lượng tái tạo và phân định rõ trách nhiệm quản lý trung ương - địa phương.
    • Singapore: Áp dụng thuế môi trường trên cơ sở hàm lượng lưu huỳnh trong nhiên liệu; cơ quan thuế xây dựng bộ tiêu chí đánh giá rủi ro tuân thủ để tập trung thanh tra nhóm hàng có nguy cơ sai phạm cao.
    • 4 bài học rút ra cho Việt Nam: (1) Xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ, không chồng chéo; (2) Tổ chức bộ máy quản lý chặt chẽ và tăng cường phối hợp liên ngành; (3) Đa dạng hóa công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức; (4) Hiện đại hóa công nghệ thông tin, ứng dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra thuế.

Chương 2: Thực trạng pháp luật thuế bảo vệ môi trường và thực tiễn áp dụng thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu mổ xẻ các quy định thực định và số liệu thực thi trong giai đoạn 2012–2022:

1. Thực trạng các quy định pháp luật thực định:

  • Về đối tượng chịu thuế (Điều 3 Luật năm 2010): Quy định 08 nhóm hàng hóa (xăng dầu mỡ nhờn; than đá; dung dịch HCFC; túi ni lông thuộc diện chịu thuế; thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng). Tác giả chỉ ra các điểm bất cập:
    • Dung dịch HCFC tồn tại dưới dạng hợp chất (như Polyol trộn sẵn HCFC-141b chiếm 13% - 30% dùng sản xuất tấm cách nhiệt) chưa được quy định rõ có thuộc diện chịu thuế hay không.
    • Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Nghị định 69/2012/NĐ-CP quy định túi ni lông đóng gói sẵn hàng hóa thuộc diện không chịu thuế, dẫn đến khó khăn trong kiểm soát mục đích sử dụng và gây thất thu thuế.
    • Khoản 2 Điều 3 quy định trao thẩm quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ sung đối tượng chịu thuế là chưa phù hợp với thẩm quyền lập pháp của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013.
  • Về người nộp thuế (Điều 5): Mở rộng thêm khâu "nhập khẩu" so với Luật BVMT năm 2005 là hợp lý nhằm tránh kẽ hở chuyển dịch từ sản xuất sang nhập khẩu để trốn thuế.
  • Về căn cứ tính thuế và thuế suất (Điều 6, Điều 8): Áp dụng phương pháp tuyệt đối theo biểu khung thuế. Tác giả chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng:
    • Tất cả các loại xăng (trừ etanol) áp dụng cùng khung thuế 1.000 - 4.000 đồng/lít mà không căn cứ vào hàm lượng lưu huỳnh.
    • Than đá phát thải SO2 gấp 2,3 lần, bụi gấp 32,7 lần, CO gấp 6,3 lần so với dầu khi tạo ra cùng đơn vị năng lượng (theo USEIA); than đá chiếm tới 60% tổng phát thải CO2 do đốt nhiên liệu tại Việt Nam (xăng dầu chiếm 28%, khí thiên nhiên 12%), nhưng thuế suất than đá rất thấp (15.000 đồng/tấn than an-tra-zít).
    • Thuốc bảo vệ thực vật áp dụng mức 1.000 đồng/kg cào bằng giữa các loại; trong khi Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT không còn danh mục "hạn chế sử dụng" mà chỉ có danh mục "được phép sử dụng" và "cấm sử dụng", dùng thuật ngữ "thuốc trừ cỏ" thay vì "thuốc diệt cỏ" gây xung đột văn bản áp dụng.
    • Túi ni lông chịu mức 30.000 - 50.000 đồng/kg (tương đương 250 - 500 đồng/túi), quá thấp so với quốc tế (Anh, Ailen đánh thuế tương đương 4.500 đồng/túi; Hồng Kông tương đương 1.100 đồng/túi). Cán bộ thuế thiếu chuyên môn kỹ thuật để phân biệt mức thuế 30.000 hay 50.000 đồng/kg theo màng đơn HDPE theo Thông tư 152/2011/TT-BTC.
  • Về chế độ thu nộp, hoàn thuế: Điều 9 quy định thời điểm tính thuế đối với xăng dầu nhập khẩu để bán là thời điểm đầu mối bán ra, mâu thuẫn với quy định tính thuế tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan của hàng nhập khẩu nói chung.

2. Tổng hợp số liệu thu NSNN và so sánh cơ cấu thuế:

Năm Tổng số thu thuế BVMT (Tỷ đồng) Ghi chú / Tỷ trọng trong tổng thu NSNN
2012 11.160 Bắt đầu áp dụng Luật Thuế BVMT năm 2010
2013 11.020 Chiếm hơn 1% tổng thu NSNN
2016 43.323 Mở rộng diện thu và điều chỉnh mức thu
2017 44.050 Tăng trưởng ổn định
2019 63.079 Đạt đỉnh giai đoạn 2012 - 2020
2020 60.631 Ảnh hưởng dịch bệnh
2021 58.502 Chiếm 3,68% tổng thu NSNN (xăng dầu chiếm 56.054 tỷ đồng, gần 97%)
Tiêu chí so sánh Nhóm Xăng dầu Nhóm Than đá
Tỷ trọng phát thải CO2 (đốt nhiên liệu tại VN) 28% 60%
Mức độ phát thải ô nhiễm tương đối (USEIA) Thấp hơn than đá SO2 gấp 2,3 lần; Bụi gấp 32,7 lần; CO gấp 6,3 lần
Mức thuế suất tuyệt đối áp dụng 1.000 - 4.000 đồng/lít 10.000 - 50.000 đồng/tấn (rất thấp)
Đóng góp trong tổng thu thuế BVMT năm 2021 56.054 tỷ đồng (~97,0%) Gần 2%

3. Thực tiễn áp dụng và hạn chế:

  • Kết quả tích cực: Tăng thu cho NSNN; thực hiện nguyên tắc PPP; hỗ trợ thực thi các cam kết quốc tế (Nghị định thư Montreal, Nghị định thư Kyoto về Cơ chế phát triển sạch CDM...).
  • Tồn tại, bất cập: Khó đo lường tác động môi trường; công tác kiểm tra chưa bao quát (mỗi năm chỉ mới thanh tra thuế được gần 20% doanh nghiệp, hơn 80% chưa được thanh tra); thất thu thuế nghiêm trọng đối với túi ni lông (ví dụ tại làng nghề Minh Khai sản xuất 1.200 tấn túi ni lông/năm, mức thuế theo luật tương đương 60 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ thu được gần 500 triệu đồng thuế môn bài).

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế bảo vệ môi trường và nâng cao hiệu quả áp dụng thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện trên 3 nhóm nội dung:

1. Hoàn thiện danh mục đối tượng chịu thuế:

  • Bổ sung vào diện chịu thuế các hàng hóa gây ô nhiễm theo thông lệ quốc tế: phân bón hóa học, thuốc lá, khí than, khí thiên nhiên; về lâu dài bổ sung chất tẩy rửa công nghiệp và chất thải phóng xạ.
  • Bãi bỏ quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010 về việc trao quyền bổ sung đối tượng chịu thuế cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội để đảm bảo tính hợp hiến theo Hiến pháp năm 2013.
  • Quy định cụ thể cách tính thuế đối với chất hỗn hợp chứa dung dịch HCFC (như Polyol trộn sẵn HCFC-141b).
  • Đưa tất cả các loại túi ni lông, màng ni lông vào diện chịu thuế, bãi bỏ quy định phân biệt theo mục đích sử dụng (đóng gói sẵn hay màng nông nghiệp) nhằm chấm dứt tình trạng lách luật.

2. Hoàn thiện căn cứ tính thuế và mức thuế suất:

  • Xây dựng biểu thuế xăng dầu phân hóa theo hàm lượng lưu huỳnh và mức độ phát thải chất độc hại.
  • Điều chỉnh tăng mạnh khung thuế suất tuyệt đối đối với than đá nhằm phản ánh đúng tỷ trọng phát thải 60% CO2.
  • Nâng khung thuế suất đối với túi ni lông và bao bì nhựa dùng một lần để tác động thực chất đến giá bán lẻ, thay đổi hành vi người tiêu dùng.
  • Chuẩn hóa quy định về thuốc bảo vệ thực vật: bỏ cụm từ "thuộc loại hạn chế sử dụng" tại các Khoản 5, 6, 7, 8 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010; thay đổi thuật ngữ "thuốc diệt cỏ" thành "thuốc trừ cỏ" để thống nhất với Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT; định mức thuế suất dựa trên thang độ độc hại của hoạt chất.

3. Hoàn thiện chế độ thu nộp, hoàn thuế và tổ chức thực thi:

  • Sửa đổi quy định thời điểm tính thuế đối với xăng dầu nhập khẩu thống nhất là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng khai báo nhập khẩu để bán nhưng đưa vào sản xuất nhằm trì hoãn nghĩa vụ thuế.
  • Quy định rõ cơ chế phân chia nguồn thu cho ngân sách địa phương và minh bạch hóa cơ chế sử dụng nguồn thu thuế BVMT phục vụ trực tiếp cho các dự án môi trường.
  • Bổ sung chế tài kiểm soát hoàn thuế chặt chẽ theo Thông tư 30/2013/TT-BTC; đẩy mạnh ứng dụng cơ sở dữ liệu số và quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thuế.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực thi pháp luật: Tổng hợp toàn diện chuỗi số liệu thu ngân sách từ thuế BVMT giai đoạn 2012–2021 (tăng từ 11.160 tỷ đồng lên 58.502 tỷ đồng, chiếm 3,68% tổng thu NSNN năm 2021).
  • Phát hiện những mâu thuẫn trong chính sách thuế:
    • Chỉ ra sự bất đối xứng giữa cơ cấu phát thải và đóng góp nghĩa vụ thuế giữa xăng dầu (chiếm 28% phát thải CO2 nhưng nộp gần 97% thuế BVMT) và than đá (chiếm 60% phát thải CO2 nhưng chỉ đóng góp gần 2% thuế BVMT).
    • Vạch rõ xung đột pháp lý giữa Luật Thuế BVMT năm 2010 với Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phân loại và định danh thuốc bảo vệ thực vật.
    • Phân tích thực trạng thất thu thuế đối với bao bì nhựa qua vụ việc điển hình tại làng nghề Minh Khai (thất thu từ tiềm năng 60 tỷ đồng xuống mức thu thuế môn bài gần 500 triệu đồng).
  • Đóng góp về mặt lập pháp: Kiến nghị cụ thể về việc sửa đổi Luật Thuế BVMT năm 2010, bãi bỏ quy định chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013, thống nhất thời điểm tính thuế xăng dầu nhập khẩu và đề xuất bổ sung các đối tượng chịu thuế mới (phân bón hóa học, khí than, khí thiên nhiên, hỗn hợp chứa HCFC).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý thực định và phân tích số liệu thứ cấp ở cấp độ vĩ mô từ ngày 01/01/2012 đến năm 2024; phạm vi so sánh kinh nghiệm quốc tế mới giới hạn ở 3 quốc gia (Đan Mạch, Hà Lan, Singapore); chưa có điều kiện khảo sát thực địa diện rộng trên toàn bộ các làng nghề sản xuất bao bì nhựa trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu mô hình tính toán định lượng mức độ co giãn của cầu khi điều chỉnh tăng thuế suất thuế BVMT đối với than đá và túi ni lông; nghiên cứu cơ chế pháp lý điều tiết nguồn thu từ thuế BVMT sang các quỹ tài chính xanh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ sản xuất sạch hơn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Quản lý công và Kinh tế tài chính công.
    • Cán bộ làm công tác quản lý thuế, hải quan và hoạch định chính sách tại Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Bảng tổng hợp và phân tích sự bất cập trong mức thuế suất tuyệt đối giữa xăng dầu và than đá;
    • Phân tích sự không tương thích giữa Luật Thuế BVMT năm 2010 và Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT về danh mục thuốc BVTV;
    • Hệ thống các bài học kinh nghiệm quốc tế về quản lý rủi ro và điều tiết thuế năng lượng từ Đan Mạch, Hà Lan và Singapore.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao khóa luận nhận định cơ cấu thu thuế BVMT năm 2021 giữa xăng dầu và than đá chưa đảm bảo tính công bằng?
Trả lời: Theo số liệu báo cáo của IEA và USEIA, than đá chiếm tới 60% tổng lượng phát thải CO2 từ việc đốt nhiên liệu tại Việt Nam và phát thải SO2 gấp 2,3 lần, bụi gấp 32,7 lần so với dầu. Tuy nhiên, mức thuế suất tuyệt đối của than đá lại rất thấp (15.000 đồng/tấn). Năm 2021, nhóm dầu mỡ nhờn đóng góp tới 56.054 tỷ đồng (chiếm gần 97% tổng thu thuế BVMT), trong khi than đá chỉ đóng góp gần 2%, tạo ra sự bất hợp lý lớn giữa mức độ gây ô nhiễm và nghĩa vụ tài chính phải gánh chịu.

2. Quy định về thuế BVMT đối với nhóm thuốc bảo vệ thực vật hiện đang xung đột với văn bản chuyên ngành nào?
Trả lời: Luật Thuế BVMT năm 2010 quy định đối tượng chịu thuế là các loại thuốc BVTV "thuộc loại hạn chế sử dụng" và dùng từ "thuốc diệt cỏ". Tuy nhiên, theo Thông tư 09/2023/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện không còn danh mục thuốc BVTV "hạn chế sử dụng" mà chỉ có danh mục "được phép sử dụng" và "cấm sử dụng", đồng thời văn bản này dùng thuật ngữ "thuốc trừ cỏ" (với 260 hoạt chất và 701 tên thương phẩm). Sự thiếu đồng bộ này khiến cơ quan thuế không có căn cứ rõ ràng để xác định loại thuốc nào phải nộp thuế.

3. Vướng mắc pháp lý đối với dung dịch HCFC và túi ni lông được khóa luận chỉ ra là gì?
Trả lời: Đối với HCFC, luật mới quy định dung dịch đơn chất mà chưa có hướng dẫn rõ ràng đối với dạng chất hỗn hợp có chứa HCFC (như Polyol trộn sẵn HCFC-141b chiếm 13% - 30% HCFC). Đối với túi ni lông, việc Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Nghị định 69/2012/NĐ-CP miễn thuế cho túi ni lông đóng gói sẵn hàng hóa dẫn đến tình trạng lợi dụng mục đích sử dụng để trốn thuế; đồng thời Thông tư 152/2011/TT-BTC quy định theo màng đơn HDPE khiến cơ quan thực thi lúng túng khi xử lý các loại bao bì đa lớp hoặc chứa hạt PE.

4. Đan Mạch đã triển khai thuế các-bon và quản lý thuế môi trường như thế nào để Việt Nam có thể học hỏi?
Trả lời: Đan Mạch ban hành thuế các-bon năm 1991, áp dụng từ năm 1992 với mức 7,50 USD/tấn CO2 cho hộ gia đình và mở rộng sang doanh nghiệp năm 1993 với mức 14,30 USD/tấn CO2, đồng thời công khai doanh thu thuế để tạo đồng thuận xã hội. Nước này cũng xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số dùng chung và áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra thuế, giúp năm 2013 thu thuế môi trường đạt 4,25% GDP.

5. Tác giả đề xuất sửa đổi thời điểm tính thuế đối với mặt hàng xăng dầu nhập khẩu ra sao?
Trả lời: Tác giả đề xuất sửa đổi quy định tại Điều 9 Luật Thuế BVMT năm 2010 theo hướng: Đối với xăng dầu nhập khẩu (bao gồm cả trường hợp nhập khẩu để bán), thời điểm tính thuế thống nhất là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Quy định này nhằm đảm bảo tính đồng bộ với Luật Hải quan, Luật NSNN và ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu nhưng lấy lý do dùng cho sản xuất nội bộ để trì hoãn, trốn tránh kê khai nộp thuế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang đã phản ánh toàn diện bức tranh lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật thuế BVMT tại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2024. Thông qua việc phân tích các bất cập về đối tượng chịu thuế, khung thuế suất tuyệt đối và lỗ hổng trong quản lý thu nộp, công trình đã làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối trong cơ cấu thu ngân sách và tình trạng thất thu thuế ở một số mặt hàng như than đá và túi ni lông. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế từ Đan Mạch, Hà Lan, Singapore cùng hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, khóa luận đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có giá trị thực tiễn nhằm hoàn thiện sắc thuế này theo hướng công bằng, minh bạch và hiệu quả hơn.