Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất tại xã phúc lộc tp yên bái t yên bái

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất tại xã Phúc Lộc, TP Yên Bái.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

95
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu chung

2.2. Mục tiêu cụ thể

3. Ý nghĩa khoa học của đề tài

3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn

4. Đóng góp mới của đề tài

5. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm và các khái niệm có liên quan

1.1.1. Khái niệm việc làm

1.1.2. Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm

1.1.3. Giải quyết việc làm ở nông thôn

1.2. Thu hồi đất và các vấn đề liên quan

1.3. Tình hình nông dân bị THĐ sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay

1.4. Tình hình THĐ của nông dân để thực hiện CNH - HĐH tại Hà Nội

1.5. Tình hình THĐ cho xây dựng KCN, đô thị và KCHT ở huyện Mê Linh từ năm 1986 đến năm 2012

1.6. Tình hình thu hồi đất xây dựng các KCN ở tỉnh Hải Dương

1.7. Tình hình THĐ để phục vụ cho xây dựng công trình phúc lợi xã hội tại xã Phúc Lộc

1.8. Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến việc làm của người lao động nông thôn

1.9. Chính sách đất đai ở Việt Nam

1.10. Nội dung cơ bản của chính sách đất đai

1.11. Thực trạng chế độ sở hữu đất đai Việt Nam

1.12. Cơ sở thực tiễn

1.13. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc thu hồi đất đai và giải quyết vấn đề sau mất đất

1.13.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.13.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Đài Loan

1.13.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Thái Lan

1.14. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động bị THĐ ở Việt Nam

1.14.1. Kinh nghiệm chung giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Việt Nam

1.14.2. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở huyện Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình

1.14.3. Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Thành phố Hải Phòng

1.15. Những bài học kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở xã Phúc Lộc

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu

2.1.2.1. Phạm vi thời gian
2.1.2.2. Phạm vi không gian

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp chọn hộ nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp điều tra

2.4.3. Xây dựng phiếu điều tra

2.4.4. Phương pháp chuyên gia

2.4.5. Phương pháp thu thập thông tin

2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.4.7. Phương pháp phân tích số liệu

2.4.7.1. Phương pháp thống kê mô tả
2.4.7.2. Phương pháp so sánh

2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5.1. Hệ thống chỉ tiêu về đất nông nghiệp

2.5.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh về nguồn lao động và cơ cấu LĐ nông thôn

2.5.3. Hệ thống chỉ tiêu liên quan đến kết quả sản xuất kinh doanh của hộ

2.5.4. Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình việc làm của người lao động trước và sau khi thu hồi đất

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phúc Lộc

3.1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Phúc Lộc

3.1.1.1. Vị trí địa lý
3.1.1.2. Đặc điểm địa hình
3.1.1.3. Khí hậu và thủy văn
3.1.1.4. Tài nguyên thiên nhiên

3.1.2. Tình hình sử dụng đất đai của xã qua 3 năm

3.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.1.3.1. Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm
3.1.3.2. Kết quả sản xuất và kinh doanh của xã Phúc Lộc
3.1.3.3. Tình hình cơ sở hạ tầng của xã

3.2. Thực trạng về tình hình thu hồi đất phục vụ xây dựng công trình phúc lợi của các hộ trên địa bàn xã Phúc Lộc

3.3. Thực trạng lao động, việc làm và thu nhập của hộ nông dân bị thu hồi đất

3.3.1. Thực trạng về lao động của hộ dân bị thu hồi đất

3.3.1.1. Tình hình nhân khẩu theo giới tính và theo độ tuổi lao động của các nhóm hộ
3.3.1.2. Chất lượng nguồn lao động ở các nhóm hộ điều tra trên địa bàn

3.3.2. Hiện trạng việc làm của người lao động trước và sau khi THĐ

3.3.3. Sự thay đổi nghề nghiệp của các hộ dân sau THĐ

3.3.4. Sự biến động trong thu nhập của hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất

3.3.5. Các chính sách hỗ trợ đền bù của nhà nước đối với người lao động bị THĐ

3.3.6. Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ dân sau THĐ

3.4. Chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm tại địa phương

3.4.1. Các chính sách giải quyết việc làm của xã

3.4.2. Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động bị THĐ ở xã Phúc Lộc

3.4.3. Đánh giá chung về giải quyết việc làm cho lao động của các hộ bị THĐ

3.4.3.1. Ý kiến của hộ bị thu hồi đất
3.4.3.2. Đánh giá của chuyên gia về những hộ bị mất đất về cơ hội việc làm

4. CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN BỊ THĐ TẠI XÃ PHÚC LỘC - TP.YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI

4.1. Quan điểm - Phương hướng - Mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn bị THĐ ở xã Phúc Lộc

4.1.1. Quan điểm - Phương hướng giải quyết việc làm cho lao động bị THĐ

4.1.2. Mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động bị THĐ

4.2. Các giải pháp giải quyết việc làm nhằm ổn định và nâng cao thu nhập cho người dân sau khi THĐ

4.2.1. Giải pháp chung

4.2.2. Giải pháp cụ thể

4.2.2.1. Giải pháp về việc làm và thu nhập cho hộ bị thu hồi đất

4.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm cho lao động nông thôn khi bị thu hồi đất

4.3.1. Đối với Nhà nước

4.3.2. Đối với chính quyền địa phương

4.3.3. Đối với các hộ gia đình bị THĐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tiếng Việt

2. Tài liệu Internet

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Thực trạng lao động nông thôn bị thu hồi đất tại xã Phúc Lộc

Tình hình lao động nông thôn tại xã Phúc Lộc, TP Yên Bái đang gặp nhiều khó khăn do việc thu hồi đất để phục vụ cho các dự án phát triển. Nhiều hộ nông dân đã mất đi nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp, dẫn đến tình trạng lao động mất đấtthất nghiệp gia tăng. Theo số liệu khảo sát, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động tại xã đã tăng lên đáng kể sau khi đất nông nghiệp bị thu hồi. Việc làm ở nông thôn thường mang tính thời vụ, không ổn định, và không đủ để đảm bảo cuộc sống cho người dân. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên chính quyền địa phương trong việc tìm kiếm giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động. Một số hộ đã chuyển đổi nghề nghiệp, nhưng không phải ai cũng có khả năng thích ứng với những thay đổi này. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước và địa phương vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của người lao động.

1.1. Tình hình sử dụng đất và ảnh hưởng đến việc làm

Việc thu hồi đất đã làm giảm diện tích đất canh tác, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Nhiều hộ nông dân không còn đất để sản xuất, dẫn đến việc họ phải tìm kiếm việc làm mới. Tuy nhiên, không phải tất cả đều có thể chuyển đổi sang các ngành nghề khác. Theo khảo sát, chỉ có khoảng 30% lao động tìm được việc làm mới trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm hiệu quả hơn cho người lao động nông thôn. Các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cần được triển khai mạnh mẽ hơn để giúp người dân có thể thích ứng với tình hình mới.

II. Chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn

Chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại xã Phúc Lộc hiện nay còn nhiều bất cập. Mặc dù có một số chương trình hỗ trợ từ chính phủ, nhưng việc thực hiện còn chậm và thiếu đồng bộ. Nhiều hộ dân không được tiếp cận thông tin về các chính sách hỗ trợ, dẫn đến việc không thể tận dụng các cơ hội việc làm mới. Các chương trình đào tạo nghề chưa được tổ chức thường xuyên và không phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Điều này đã làm giảm hiệu quả của các chính sách hỗ trợ, khiến cho người lao động nông thôn gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương để nâng cao hiệu quả của các chính sách này.

2.1. Đánh giá hiệu quả các chính sách hiện tại

Các chính sách hỗ trợ việc làm hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người lao động. Nhiều hộ dân cho rằng các chương trình đào tạo nghề không phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Họ cần những kỹ năng thực tiễn hơn là lý thuyết. Việc thiếu thông tin và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương đã khiến cho nhiều người lao động không thể tìm được việc làm phù hợp. Để cải thiện tình hình, cần có các chương trình đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu thực tế của thị trường, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền để người dân nắm rõ các chính sách hỗ trợ.

III. Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Để giải quyết vấn đề việc làm cho lao động nông thôn bị thu hồi đất, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Trước hết, chính quyền địa phương cần xây dựng các chương trình đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. Các chương trình này cần được tổ chức thường xuyên và có sự tham gia của các doanh nghiệp để đảm bảo tính thực tiễn. Thứ hai, cần có các chính sách hỗ trợ tài chính cho người lao động để họ có thể khởi nghiệp hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Cuối cùng, việc tăng cường thông tin và tuyên truyền về các chính sách hỗ trợ cũng rất quan trọng để người dân có thể tiếp cận và tận dụng các cơ hội việc làm mới.

3.1. Đề xuất các chương trình đào tạo nghề

Các chương trình đào tạo nghề cần được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Cần có sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để đảm bảo rằng người lao động được trang bị những kỹ năng cần thiết. Ngoài ra, cần có các chương trình hỗ trợ tài chính cho người lao động tham gia các khóa đào tạo nghề. Điều này sẽ giúp họ có cơ hội nâng cao tay nghề và tìm kiếm việc làm ổn định hơn. Các chương trình này cần được triển khai một cách đồng bộ và có sự giám sát chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả.

09/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất tại xã phúc lộc tp yên bái t yên bái

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm và các khái niệm có liên quan 1. Lao động * Khái niệm lao động Lao động, trong kinh tế học, được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa. Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất.

Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động.

Lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, dịch vụ lao động cũng như những hàng hóa và dịch vụ khác được mua bán trên thị trường lao động. Số lượng lao động phụ thuộc vào dân số, quy mô và cơ cấu của nguồn lao động do quy mô và cơ cấu dân số quyết định. Lực lượng lao động là khái niệm để đánh giá nguồn lao động ở các nước đang phát triển. Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm hoặc đang tìm việc làm.

Những người đang tích cực tìm việc làm được coi là những người thất nghiệp, đó là nguồn lao động chưa sử dụng hết. Những nguồn lao động này có việc làm đầy đủ ở khu vực nông thôn hoặc khu vực thành thị không chính thức nhưng làm việc với năng suất thấp, những người buôn thúng, bán mẹt, hàng rong, đánh giầy, bán vé xổ số. Họ đóng góp rất ít hoặc không đóng góp gì cho sản xuất - họ là những người thất nghiệp. Lao động tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Để tạo ra được nhiều của cải vật chất cho xã hội cần số lượng lao động và chất lượng lao động. Vì vậy, đối với các nước đang phát triển, việc phát triển giáo dục, đào tạo về văn hóa, n 5 chuyên môn, tay nghề và thể dục thể thao, y tế để tạo nguồn lao động có số lượng, chất lượng cao là vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế quốc gia [7]. Theo quy định của bộ luật lao động thì độ tuổi lao động được tính như sau: + Đối với nam giới: Từ 15 đến 60 tuổi + Đối với nữ giới: Từ 15 đến 55 tuổi * Phân loại lao động Việc phân loại lao động nhằm đánh giá chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng và phân công lao động trong nông thôn. Về đánh giá chất lượng nguồn lao động, nếu đầy đủ còn phải có tiêu chí đánh giá về thể lực và tâm lực, nhưng trong phạm vi đề tài này không có điều kiện đề cập đến, do đó chỉ đánh giá về trình độ văn hoá và trình độ chuyên môn.

- Theo trình độ đào tạo: + Trình độ văn hoá của người lao động: Về trình độ văn hoá của người lao động có thể phân chia theo các mức độ sau: - Chưa tốt nghiệp cấp I - Tốt nghiệp cấp I - Tốt nghiệp cấp II - Tốt nghiệp cấp III Việc phân chia và tính được chính xác tỷ lệ lao động có trình độ văn hoá khác nhau là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng nguồn lao động nông thôn. Trình độ THPT là trình độ cơ sở rất quan trọng tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tự học hỏi, tiếp thu và áp dụng những kỹ thuật mới vào sản xuất và kinh doanh. Sự hiểu biết về pháp luật, việc xây dựng đời sống văn minh, hiệu quả của các chính sách phát triển nông nghiệp,. phụ thuộc rất lớn vào trình độ văn hoá của người lao động.

Vì vậy, việc đánh giá đúng trình độ văn hoá của lao động nông thôn là cơ sở quan trọng để đưa ra những biện pháp đào tạo và chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người lao động. n 6 + Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn có thể được phân theo các mức độ sau: - Trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật - Trình độ trung cấp - Trình độ Cao đẳng và trình độ Đại học - Trình độ trên Đại học - Ngành hoạt động: Phân chia lao động theo ngành hoạt động sẽ gồm các ngành sau: - Trồng trọt - Chăn nuôi - Lâm nghiệp - Thuỷ sản - Phi nông nghiệp Việc nghiên cứu như vậy sẽ nắm được thực trạng việc làm và thu nhập của các ngành khác nhau, so sánh cụ thể thời gian lao động và thu nhập được tạo ra từ mỗi ngành, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp. Trong nông thôn, việc phân chia lao động theo ngành như trên thực chất chỉ mang tính tương đối. Việc phân chia như trên là dựa vào thu nhập và thời gian lao động được phân bổ cho các ngành.

Trong thực tế, mỗi hộ nông dân thường có cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thuỷ sản, ít nhất cũng có chăn nuôi và trồng trọt. Vì vậy, trong gia đình một người có thể vừa làm trồng trọt, vừa làm chăn nuôi, vừa làm các việc khác. Việc phân chia lao động theo ngành như trên cho phép đánh giá được cơ cấu kinh tế trong nông thôn và trình độ phân công lao động trong nông thôn. Điều này có ý nghĩa quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của mỗi vùng nông thôn trong việc khai thác tối đa và hợp lý những thế mạnh của địa phương mình [14].

Khái niệm việc làm Theo điều 13 chương 3 Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 đã ban hành: “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu n 7 nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Việc làm được phân loại theo các mức độ sau: - Phân loại việc làm dựa theo mức độ đầu tư thời gian cho việc làm. + Việc làm chính: Là công việc mà người thực hiện dành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác. + Việc làm phụ: Là công việc mà người thực hiện dành ít thời gian hoặc có thu nhập thấp hơn so với công việc chính.

- Phân loại việc làm dựa theo mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất và thu nhập. + Việc làm đầy đủ: Là sự thỏa mãn nhu cầu việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân. Một việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động làm việc theo chế độ (độ dài thời gian lao động ở Việt Nam hiện nay là 8 giờ/ngày). + Việc làm hiệu quả: Là việc làm với năng suất, chất lượng cao, sử dụng hợp lý nguồn lao động [14].

Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm Ở Việt Nam số liệu về thất nghiệp được tổng hợp từ Cuộc điều tra lao động - Việc làm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện. Đây là cuộc điều tra chọn mẫu được thực hiện theo phương thức phỏng vấn trực tiếp. Dựa vào trả lời cho các câu hỏi điều tra, mỗi người trưởng thành (từ đủ 15 tuổi trở lên) trong các hộ gia đình được điều tra được xếp vào một trong ba nhóm sau đây: Có việc làm; thất nghiệp; không nằm trong lực lượng lao động - Người có việc làm: Là những người thuộc lực lượng lao động mà trong tuần lễ tính trước thời điểm điều tra: + Đang làm công việc để nhận tiền lương, lợi nhuận hay tiền mặt. + Đang làm công việc không được trả tiền lương hay lợi nhuận trong các sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình.

n 8 Một người được coi là thất nghiệp nếu trong tuần lễ trước điều tra người đó không có việc làm nhưng có nhu cầu và nỗ lực tìm kiếm việc làm. Như vậy, người không thuộc hai loại trên, chẳng hạn sinh viên hệ tập trung dài hạn, người nội trợ hoặc nghỉ hưu, những người ở tù hay những người không có ý định tìm kiếm việc làm đều không nằm trong lực lượng lao động. Lực lượng lao động được định nghĩa là tổng số những người đang có việc làm và những người thất nghiệp. Theo định nghĩa trong cuốn sách sử dụng lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam “Thiếu việc làm là không tạo được điều kiện cho người lao động sử dụng hết thời gian lao động của mình” [14].

Giải quyết việc làm ở nông thôn * Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. * Nội dung giải quyết việc làm - Đánh giá tình hình việc làm cho lao động của địa phương trong từng thời kỳ bao gồm: Số lượng lao động và chất lượng lao động; số lao động chưa có việc làm hay nhu cầu việc làm. - Thực thi các chính sách giải quyết việc làm như: chính sách đào tạo nghề cho lao động; chính sách phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. - Tuyên truyền, vận động, khuyến khích hộ sản xuất tự vận động phát triển nền kinh tế của hộ.

* Sự cần thiết giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất - Giải quyết việc làm cho những nông dân bị thu hồi đất hiện nay rất quan trọng vì đây là một lực lượng lao động chiếm một tỷ trọng lớn trong xã hội. Hơn nữa đa phần số lao động này là ở nông thôn, trình độ về văn hóa và n 9 nhận thức có phần hạn chế, họ lại dễ bị những kẻ xấu, những phần tử phản động dụ dỗ lôi kéo, xúi giục nên một khi lực lượng này bị thất nghiệp thì gây ra những hậu quả khó lường trước được. - Tạo việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất là hoạt động đóng vai trò quan trọng không những đối với bản thân người lao động mà còn đối với cả xã hội và cả doanh nghiệp [12]. Thu hồi đất và các vấn đề liên quan * Khái niệm về thu hồi đất: Tại điều 4 - Luật đất đai 2003 thì thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này [8].

* Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Thực Trạng Và Giải Pháp Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn Bị Thu Hồi Đất Tại Xã Phúc Lộc, TP Yên Bái là một tài liệu quan trọng phân tích sâu về tình hình lao động nông thôn bị ảnh hưởng bởi quá trình thu hồi đất tại địa bàn xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái. Tài liệu này không chỉ chỉ ra những thách thức mà người lao động phải đối mặt, như mất việc làm và thiếu kỹ năng chuyển đổi nghề nghiệp, mà còn đề xuất các giải pháp thiết thực để hỗ trợ họ tái định cư và tìm kiếm việc làm mới. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững ở khu vực nông thôn.

Để mở rộng hiểu biết về các vấn đề xã hội và pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ công tác xã hội vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ người nghèo tại địa bàn xã viên nội huyện ứng hòa thành phố hà nội, Luận án tiến sĩ bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở việt nam hiện nay, và Luận án tiến sĩ sử học quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo ở tỉnh sơn la 19982015. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về các vấn đề xã hội và pháp lý liên quan đến lao động và phát triển bền vững.