Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là vấn đề xã hội có tính chất chiến lược đối với các quốc gia đang phát triển trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tại Việt Nam, sự phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đòi hỏi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân bổ lại các nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực đất đai và lao động. Sản xuất nông - lâm nghiệp vốn là lĩnh vực tạo sinh kế truyền thống, thu hút đại bộ phận nhân lực nông thôn, nhưng diện tích đất canh tác bình quân đầu người của Việt Nam ở mức thấp (khoảng 480 $\text{m}^2$/người đối với đất lúa, chỉ bằng 1/4 so với Thái Lan). Quá trình đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng làm quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, dẫn đến tình trạng thất nghiệp thời vụ, thiếu việc làm và hiện tượng "nông nhàn vĩnh viễn" ở nhiều địa phương.
Xã Phúc Lộc là một xã thuần nông thuộc thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, với đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào canh tác nông nghiệp và chăn nuôi. Từ tháng 10 năm 2011, địa phương triển khai thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp và lâm nghiệp để phục vụ các dự án xây dựng công trình phúc lợi xã hội trọng điểm của tỉnh, bao gồm trường học, bệnh viện lao và bệnh viện 500 giường. Đặc thù của việc thu hồi đất tại xã Phúc Lộc là chuyển đổi mặt bằng phục vụ công trình công cộng, khác với việc thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp hay cụm công nghiệp vốn có khả năng tuyển dụng và tạo việc làm công nghiệp tại chỗ cho người dân mất đất. Do đó, sau khi mất tư liệu sản xuất chủ yếu, người lao động nông thôn tại xã Phúc Lộc phải đối mặt với áp lực chuyển đổi nghề nghiệp và nguy cơ thiếu việc làm rất lớn.
Trước thực tế đó, tác giả Hoàng Thị Huế đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp nhằm phân tích toàn diện thực trạng biến động việc làm, đời sống của người dân và đề xuất các giải pháp khả thi.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng việc làm cho người lao động nông thôn trong độ tuổi từ 15 đến 60 ở xã Phúc Lộc, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, tạo điều kiện ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn trên địa bàn xã.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng lao động thông qua việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn ở xã Phúc Lộc - TP. Yên Bái sau khi bị thu hồi đất.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn xã Phúc Lộc - TP. Yên Bái.
Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của đề tài tập trung vào 5 vấn đề cốt lõi:
- Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Phúc Lộc diễn ra như thế nào?
- Tình hình lao động nông thôn trên địa bàn xã theo độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn sau thu hồi đất biến động ra sao?
- Thực trạng lao động, việc làm, ngành nghề và thu nhập của các hộ trước và sau khi thu hồi đất thay đổi như thế nào?
- Sau khi được nhận tiền đền bù, các hộ nông dân quản lý và sử dụng nguồn tiền này như thế nào?
- Các giải pháp chủ yếu nào cần được triển khai để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn xã Phúc Lộc?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Lao động nông thôn trong độ tuổi lao động (nam từ 15 - 60 tuổi, nữ từ 15 - 55 tuổi) thuộc các hộ nông dân bị thu hồi đất tại xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Phúc Lộc, TP. Yên Bái, tỉnh Yên Bái (tập trung khảo sát tại 3 thôn có đất bị thu hồi gồm Thôn 1, Thôn 2 và Thôn 3).
- Phạm vi thời gian: Khóa luận thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014. Nguồn số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2011 - 2013; số liệu sơ cấp điều tra hộ nông dân được khảo sát vào năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm kinh tế học và quy định pháp luật Việt Nam:
- Khái niệm lao động và lực lượng lao động: Lao động được tiếp cận dưới góc độ là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra, là hàng hóa/dịch vụ trao đổi trên thị trường lao động. Lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động có việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm (theo Bộ luật Lao động quy định: nam từ 15 - 60 tuổi, nữ từ 15 - 55 tuổi).
- Khái niệm việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm: Căn cứ theo Điều 13 Chương 3 Bộ luật Lao động năm 1994 ("Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm"). Khóa luận phân loại việc làm theo thời gian đầu tư (việc làm chính, việc làm phụ) và theo mức độ sử dụng thời gian, hiệu quả (việc làm đầy đủ: 8 giờ/ngày; việc làm hiệu quả: năng suất và chất lượng cao). Khái niệm thiếu việc làm được xác định là tình trạng người lao động không được tạo điều kiện sử dụng hết quỹ thời gian lao động.
- Cơ sở pháp lý về đất đai và thu hồi đất: Căn cứ Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 (đặc biệt là Điều 4 về khái niệm thu hồi đất, Điều 5 về quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Điều 10 về thời hạn giao đất nông nghiệp 20 năm và lâm nghiệp 50 năm, Điều 11 về nghĩa vụ sử dụng đất, Điều 42 về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư); các Nghị định 64/CP (1993), Nghị định 02/CP (1994), Nghị định 01/CP (1995), Nghị định 197/2004/NĐ-CP (ngày 03/12/2004) và Nghị định 69/2009/NĐ-CP (ngày 13/08/2009).
- Tổng quan kinh nghiệm thực tiễn: Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đất đai và giải quyết việc làm của các quốc gia như Hàn Quốc (chính sách cấp quyền mua căn hộ tái định cư tại vùng phụ cận Seoul vào những năm 1970), Đài Loan (cải cách ruộng đất 1949 - 1953, phát triển trang trại đa dạng hóa và xí nghiệp gia tộc phi nông nghiệp nông thôn), Thái Lan (mô hình liên kết tam giác Nhà nước - Doanh nghiệp - Hộ gia đình trong hợp đồng gia công); đồng thời tổng hợp kinh nghiệm thực tế tại Hà Nội, Mê Linh, Hải Dương, Lạc Thủy (Hòa Bình) và Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể:
- Phương pháp chọn mẫu điều tra: Từ tổng số 256 hộ dân bị thu hồi đất trên địa bàn 3 thôn (Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3), tác giả phân loại thành 2 nhóm hộ:
- Nhóm I: Các hộ chỉ bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp (170 hộ), bao gồm nhóm mất dưới 50% diện tích và nhóm mất trên 50% diện tích đất nông nghiệp.
- Nhóm II: Các hộ bị thu hồi đồng thời nhiều loại đất gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất thổ cư (86 hộ).
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo tỷ lệ để chọn ra 60 hộ mẫu điều tra (Nhóm I chọn 40 mẫu, Nhóm II chọn 20 mẫu), đảm bảo tính đại diện cho các ngành nghề của địa phương.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Phúc Lộc giai đoạn 2011 - 2013, các đề tài nghiên cứu, sách báo và tài liệu chuyên ngành liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp 60 chủ hộ bị thu hồi đất theo bộ phiếu điều tra được thiết kế sẵn; kết hợp phương pháp quan sát thực địa.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, thảo luận chuyên sâu với các cán bộ lãnh đạo và chuyên trách của địa phương: Chủ tịch HĐND xã, Phó Bí thư Đảng ủy xã, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư chi bộ, cán bộ Địa chính - Kinh tế xã, đại diện Ban Giải phóng mặt bằng và các Trưởng thôn.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel (Sort & Filter 2010) để tổng hợp, làm sạch và xử lý dữ liệu. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tính số tuyệt đối, số tương đối, tỷ lệ phần trăm cơ cấu) và phương pháp so sánh đối chứng các chỉ tiêu trước và sau khi thu hồi đất.
- Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu: Hệ thống chỉ tiêu đất đai (diện tích trước và sau thu hồi, tỷ lệ đất bị thu hồi); nhóm chỉ tiêu nguồn nhân lực và cơ cấu lao động (cơ cấu theo ngành nghề, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, giới tính); nhóm chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh và thu nhập (tổng giá trị sản xuất, thu nhập bình quân/hộ, thu nhập bình quân theo từng ngành nghề).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết về lao động nông thôn, phân loại lao động theo trình độ đào tạo văn hóa (chưa tốt nghiệp cấp I, cấp I, cấp II, cấp III) và chuyên môn kỹ thuật (chưa qua đào tạo, sơ cấp/công nhân kỹ thuật, trung cấp, cao đẳng/đại học, sau đại học); phân loại việc làm và làm rõ sự cần thiết của công tác giải quyết việc làm cho người mất đất. Tác giả phân tích tiến trình thực hiện chính sách đất đai của Việt Nam qua các bộ luật (1987, 1993, 2003) và các văn bản quy định bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề.
Chương này cũng tổng thuật số liệu thực trạng thu hồi đất trên phạm vi toàn quốc: giai đoạn 2001 - 2005 cả nước đã thu hồi 366,44 nghìn ha đất nông nghiệp (chiếm 3,89% quỹ đất nông nghiệp đang sử dụng), tập trung 50% tại các vùng kinh tế trọng điểm (Tiền Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Hải Dương...). Đồng thời, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế và bài học từ các địa phương trong nước để định hình hướng giải quyết việc làm tại xã Phúc Lộc theo hai nhóm tuổi: đối với thanh niên đẩy mạnh đào tạo nghề và giới thiệu việc làm; đối với lao động lớn tuổi tập trung tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển nghề truyền thống (làm miến Đao, tiểu thủ công nghiệp).
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 xác lập quy trình nghiên cứu khoa học, mô tả chi tiết đối tượng khảo sát là lao động nông thôn trong độ tuổi 15 - 60 tại các hộ bị thu hồi đất ở xã Phúc Lộc. Tác giả trình bày phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên: chia tổng số 256 hộ thành Nhóm I (170 hộ chỉ mất đất nông nghiệp) và Nhóm II (86 hộ mất cả đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở), từ đó rút ra cỡ mẫu 60 hộ (40 hộ Nhóm I và 20 hộ Nhóm II).
Chương này trình bày cấu trúc phiếu điều tra hộ, phương pháp tham vấn chuyên gia lãnh đạo địa phương, quy trình xử lý dữ liệu bằng phần mềm Excel 2010 và thiết lập hệ thống công thức tính toán các chỉ tiêu thống kê về đất đai, nhân khẩu, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề và thu nhập bình quân.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả phân tích thực chứng tại xã Phúc Lộc. Xã có diện tích tự nhiên 579,85 ha, gồm 4 thôn, địa hình vùng thấp ven sông Hồng (bình độ 25 - 60m), giáp xã Giới Phiên (Bắc), xã Minh Quân (Nam), xã Bảo Hưng (Tây) và sông Hồng (Đông). Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 22 - 23°C, lượng mưa trung bình 1.200 mm/năm; thổ nhưỡng chủ yếu là đất xám (chiếm 82,36%).
Về cơ sở hạ tầng (năm 2013): Toàn xã có 4,5 km đường liên xã, 10,7 km đường nội bộ (90% đã kiên cố hóa bê tông, rộng 2 - 3m); 1 trạm bơm thủy lợi công suất 1.000 $\text{m}^3$ xây dựng năm 2011 với 5 km mương máng; 2 trạm biến thế, 15 km đường dây hạ thế; 2 trường học (tiểu học, THCS), 1 trường mầm non; 1 trạm y tế (1 bác sĩ, 3 y tá/y sĩ, 1 dược tá, 1 nữ hộ sinh); trang bị 21 máy cày bừa và 2 ô tô các loại.
Tác giả phân tích biến động đất đai và kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2013 qua các bảng số liệu thống kê:
| Nhóm chỉ tiêu sử dụng đất |
Năm 2011 (ha) |
Năm 2012 (ha) |
Năm 2013 (ha) |
Tỷ lệ cơ cấu 2013 (%) |
Tốc độ tăng giảm BQ (%) |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
579,85 |
579,85 |
579,85 |
100,00 |
100,00 |
| 1. Đất nông nghiệp |
112,31 |
51,48 |
20,10 |
3,47 |
42,44 |
| - Đất trồng cây hàng năm |
95,12 |
33,76 |
15,20 |
75,62 (trong đất NN) |
40,26 |
| - Đất trồng cây lâu năm |
14,69 |
15,62 |
3,70 |
18,41 (trong đất NN) |
65,01 |
| - Đất nuôi trồng thủy sản |
2,50 |
2,10 |
1,20 |
5,97 (trong đất NN) |
70,57 |
| 2. Đất lâm nghiệp (rừng sản xuất) |
187,50 |
158,92 |
151,64 |
26,15 |
90,09 |
| 3. Đất phi nông nghiệp |
280,04 |
369,45 |
413,18 |
71,26 |
121,89 |
| - Đất chuyên dùng |
104,50 |
178,23 |
215,75 |
52,22 (trong đất PNN) |
145,81 |
| - Đất phi nông nghiệp khác |
166,84 |
183,72 |
190,63 |
46,14 (trong đất PNN) |
106,94 |
| Chỉ tiêu bình quân |
|
|
|
|
|
| - Đất NN bình quân/khẩu NN (ha) |
0,09 |
0,04 |
0,02 |
- |
58,34 |
| - Đất NN bình quân/hộ NN (ha) |
0,30 |
0,14 |
0,06 |
- |
44,77 |
| - Đất NN bình quân/lao động NN (ha) |
0,12 |
0,06 |
0,03 |
- |
46,43 |
Về quy mô thu hồi đất: Tính đến năm 2013, tổng diện tích đất bị thu hồi là 129,97 ha, ảnh hưởng trực tiếp đến 256 hộ dân (chiếm 46,8% tổng số hộ toàn xã). Diện tích thu hồi phân bố tại 3 thôn:
- Thôn 1: Thu hồi 60,58 ha đất nông nghiệp (chiếm 65,7% tổng diện tích đất NN bị thu hồi).
- Thôn 2: Thu hồi 13,92 ha đất nông nghiệp (chiếm 15,1% tổng diện tích đất NN bị thu hồi).
- Thôn 3: Thu hồi 1,2 ha đất nông nghiệp (chiếm 1,3%), 1,9 ha đất thổ cư (chiếm 21,84% diện tích đất thổ cư thu hồi) và 36,86 ha đất lâm nghiệp (chiếm 19,13% diện tích đất lâm nghiệp thu hồi).
Biến động về dân số, lao động và giá trị sản xuất toàn xã giai đoạn 2011 - 2013 được ghi nhận:
- Tổng số hộ tăng từ 497 hộ (2011) lên 547 hộ (2013). Tỷ lệ hộ thuần nông giảm từ 74,05% xuống 65,81%; hộ kiêm tăng từ 18,71% lên 21,02%; hộ phi nông nghiệp tăng từ 7,24% lên 13,16%.
- Tổng nhân khẩu năm 2013 là 1.597 người (tăng bình quân 0,60%/năm). Khẩu nông nghiệp giảm từ 1.206 người (76,43%) xuống 983 người (61,55%); khẩu phi nông nghiệp tăng từ 372 người lên 614 người (38,45%).
- Tổng số lao động năm 2013 là 1.138 người. Lao động nông nghiệp giảm từ 901 người (80,45%) năm 2011 xuống 705 người (61,95%) năm 2013; lao động phi nông nghiệp tăng từ 219 người (19,55%) lên 433 người (38,05%).
- Tổng giá trị sản xuất (giá cố định 1994) tăng từ 8,80 tỷ đồng (2011) lên 15,07 tỷ đồng (2013), tăng bình quân 31,55%/năm. Trong đó, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 44,43% xuống 30,66%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 41,93% lên 48,11%; thương mại - dịch vụ tăng từ 13,64% lên 21,23%.
- Giá trị sản xuất bình quân/lao động tăng từ 8 triệu đồng/năm (2011) lên 13 triệu đồng/năm (2013).
Chương 3 cũng đi sâu đánh giá thực trạng 60 hộ điều tra về chất lượng lao động, tình hình chuyển đổi ngành nghề, thu nhập, công tác sử dụng tiền đền bù bồi thường và tổng kết các ý kiến phản ánh từ hộ dân cũng như đánh giá của chuyên gia địa phương.
Chương 4: Các giải pháp giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn bị THĐ tại xã Phúc Lộc - TP. Yên Bái - Tỉnh Yên Bái
Chương 4 xác định phương hướng và mục tiêu tạo việc làm bền vững, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ theo 3 nhóm chủ thể:
- Đối với Nhà nước: Hoàn thiện khung chính sách pháp lý về bồi thường, hỗ trợ đất đai; đảm bảo mức giá bồi thường sát với thực tế; xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách riêng cho công tác đào tạo nghề ngắn hạn, hỗ trợ người lao động bị mất tư liệu sản xuất tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để chuyển đổi nghề.
- Đối với chính quyền địa phương (xã Phúc Lộc và TP. Yên Bái):
- Quy hoạch và tổ chức các lớp dạy nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường lao động và trình độ của người dân.
- Phối hợp với các doanh nghiệp, đơn vị tuyển dụng trên địa bàn thành phố Yên Bái để giới thiệu việc làm cho lực lượng lao động trẻ tuổi.
- Khôi phục, bảo tồn và mở rộng quy mô làng nghề truyền thống làm miến Đao, hỗ trợ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại chỗ nhằm tạo việc làm cho nhóm lao động trung niên và lớn tuổi khó có khả năng chuyển đổi sang lĩnh vực công nghiệp hiện đại.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân định hướng chi tiêu và sử dụng nguồn vốn đền bù an toàn, hiệu quả.
- Đối với các hộ gia đình bị thu hồi đất:
- Nâng cao tinh thần chủ động tự tìm kiếm việc làm, tích cực tham gia các khóa đào tạo nghề và chuyển giao kỹ thuật.
- Quản lý chặt chẽ nguồn tiền bồi thường, phân bổ hợp lý vào việc đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, dịch vụ thương mại hoặc gửi tiết kiệm, tránh tình trạng chi tiêu vào mua sắm lãng phí làm phát sinh các tệ nạn xã hội.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu định lượng cụ thể dựa trên số liệu thực tế:
- Lượng hóa quy mô thu hồi đất và mức độ suy giảm tư liệu sản xuất: Xác định chính xác quy mô thu hồi 129,97 ha đất đai tại xã Phúc Lộc từ tháng 10/2011 đến 2013, trong đó đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi 92,21 ha (chiếm 82,1% tổng diện tích đất nông nghiệp ban đầu của xã), đất lâm nghiệp thu hồi 36,86 ha (chiếm 19,13%) và đất thổ cư thu hồi 1,9 ha (chiếm 21,84%). Quá trình này ảnh hưởng trực tiếp đến 256 hộ dân (46,8% tổng số hộ trong xã), bình quân mỗi hộ bị thu hồi 0,54 ha đất.
- Chỉ rõ sự biến động các chỉ tiêu bình quân đất canh tác:
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/khẩu nông nghiệp giảm từ 0,09 ha (2011) xuống còn 0,02 ha (2013), tương đương mức giảm 77,78%.
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ nông nghiệp giảm từ 0,30 ha xuống 0,06 ha (giảm 80%).
- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/lao động nông nghiệp giảm từ 0,12 ha xuống 0,03 ha (giảm 75%).
- Lượng hóa sự chuyển dịch cơ cấu nhân khẩu và lao động:
| Chỉ tiêu lao động - dân số |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
Năm 2013 |
Tỷ lệ cơ cấu 2013 (%) |
| Tổng số hộ (hộ) |
497 |
526 |
547 |
100,00 |
| - Hộ nông nghiệp |
368 |
365 |
360 |
65,81 |
| - Hộ kiêm |
93 |
111 |
115 |
21,02 |
| - Hộ phi nông nghiệp |
36 |
50 |
72 |
13,16 |
| Tổng số nhân khẩu (người) |
1.578 |
1.582 |
1.597 |
100,00 |
| - Khẩu nông nghiệp |
1.206 |
1.185 |
983 |
61,55 |
| - Khẩu phi nông nghiệp |
372 |
397 |
614 |
38,45 |
| Tổng số lao động (người) |
1.120 |
1.132 |
1.138 |
100,00 |
| - Lao động nông nghiệp |
901 |
860 |
705 |
61,95 |
| - Lao động phi nông nghiệp |
219 |
272 |
433 |
38,05 |
- Đóng góp mới của đề tài:
- Khóa luận làm rõ đặc thù kinh tế - xã hội của loại hình thu hồi đất phục vụ công trình phúc lợi công cộng (trường học, bệnh viện) tại một xã nông thôn miền núi, chỉ ra sự khác biệt căn bản so với thu hồi đất phát triển khu công nghiệp (không có cơ chế tiếp nhận lao động tại chỗ).
- Phản ánh chi tiết bức tranh biến động việc làm, phân loại đối tượng lao động theo nhóm tuổi để đề xuất các định hướng giải quyết việc làm phân tầng: thanh niên hướng tới đào tạo nghề và dịch chuyển sang công nghiệp - dịch vụ; lao động lớn tuổi tập trung vào làng nghề truyền thống miến Đao và tiểu thủ công nghiệp tại chỗ.
- Cung cấp các giải pháp cụ thể giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và quản lý sử dụng vốn bồi thường cho người dân sau thu hồi đất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát sơ cấp giới hạn tại 60 hộ gia đình thuộc 3 thôn có đất bị thu hồi của xã Phúc Lộc, thành phố Yên Bái, do đó một số phát hiện mang tính đặc thù cao theo địa bàn nghiên cứu.
- Về đánh giá chất lượng nguồn lao động, do điều kiện nghiên cứu có hạn, đề tài chỉ tập trung khảo sát tiêu chí trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật, chưa thể đánh giá toàn diện về các tiêu chí thể lực và tâm lực của người lao động nông thôn.
- Số liệu sơ cấp được thu thập tại thời điểm năm 2013 khi các dự án công trình phúc lợi (trường học, bệnh viện) mới đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng và xây dựng ban đầu, chưa phản ánh hết tác động dài hạn khi các công trình này chính thức đi vào vận hành.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của các công trình phúc lợi công cộng đối với cơ hội việc làm dịch vụ phụ trợ (kinh doanh ăn uống, nhà trọ, dịch vụ chăm sóc y tế) của người dân địa phương sau khi bệnh viện và trường học đi vào hoạt động ổn định.
- Nghiên cứu sâu về hiệu quả bảo toàn và phát triển vốn từ tiền đền bù của các hộ nông dân sau 3 đến 5 năm mất đất sản xuất.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên và người nghiên cứu: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai và Xã hội học nông thôn khi thực hiện đề tài về sinh kế, chuyển đổi việc làm và chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng. Đáng chú ý là phương pháp phân tầng nhóm hộ điều tra (Nhóm I mất riêng đất nông nghiệp, Nhóm II mất nhiều loại đất) và cách thức thiết kế bảng biểu so sánh đất đai, nhân khẩu qua các năm.
- Đối với cán bộ quản lý và chính quyền cơ sở: Cung cấp tài liệu thực tiễn cho UBND cấp xã, các phòng ban chuyên môn cấp huyện/thành phố (Phòng Tài nguyên & Môi trường, Phòng Lao động - Thương binh & Xã hội) trong việc xây dựng phương án đào tạo nghề, phát triển làng nghề truyền thống (miến Đao) và quản lý chuyển dịch cơ cấu lao động khi triển khai các dự án thu hồi đất phục vụ mục đích công cộng.
Câu hỏi thường gặp
1. Dự án thu hồi đất tại xã Phúc Lộc được triển khai vào thời điểm nào và nhằm mục đích gì?
Dự án thu hồi đất tại xã Phúc Lộc bắt đầu triển khai từ tháng 10 năm 2011, nhằm mục đích giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội của tỉnh và thành phố Yên Bái, cụ thể gồm trường học, bệnh viện lao và bệnh viện 500 giường.
2. Tổng diện tích đất bị thu hồi và số hộ dân bị ảnh hưởng tại xã Phúc Lộc là bao nhiêu?
Tính đến năm 2013, tổng diện tích đất bị thu hồi trên địa bàn xã là 129,97 ha, gồm 92,21 ha đất sản xuất nông nghiệp, 35,86 ha đất lâm nghiệp (bảng 2.1 ghi nhận 36,86 ha tại Thôn 3) và 1,9 ha đất thổ cư. Tổng số hộ gia đình bị thu hồi đất là 256 hộ (chiếm 46,8% tổng số hộ toàn xã), bình quân mỗi hộ bị thu hồi 0,54 ha đất.
3. Tỷ trọng diện tích đất nông nghiệp của xã Phúc Lộc thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2011 - 2013?
Diện tích đất nông nghiệp của xã giảm mạnh từ 112,31 ha (chiếm 19,37% tổng diện tích đất tự nhiên) năm 2011 xuống còn 51,48 ha (8,88%) năm 2012 và chỉ còn 20,10 ha (3,47%) vào năm 2013. Bình quân qua 3 năm, diện tích đất nông nghiệp của xã giảm 57,56% mỗi năm do diện tích đất bị thu hồi xây dựng công trình công cộng lên tới 92,21 ha.
4. Mẫu điều tra 60 hộ nông dân được tác giả lựa chọn theo phương pháp nào?
Tác giả phân chia 256 hộ bị thu hồi đất thành 2 nhóm: Nhóm I gồm 170 hộ chỉ mất đất nông nghiệp (chia thành nhóm mất <50% và >50% diện tích); Nhóm II gồm 86 hộ mất đồng thời đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất ở. Dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo tỷ lệ, tác giả chọn điều tra 60 hộ, gồm 40 hộ thuộc Nhóm I và 20 hộ thuộc Nhóm II tại 3 thôn (Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3).
5. Giải pháp tạo việc làm cho người lao động lớn tuổi bị mất đất tại địa phương được đề xuất là gì?
Đối với người lao động ở độ tuổi cao, khả năng học nghề công nghiệp và chuyển đổi nghề gặp nhiều khó khăn, đề tài đề xuất hướng giải quyết tạo việc làm tại chỗ thông qua chính sách hỗ trợ vốn, kỹ thuật và khuyến khích phát triển các làng nghề truyền thống của địa phương, tiêu biểu là nghề làm miến Đao và các ngành tiểu thủ công nghiệp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Huế đã phản ánh trung thực và chi tiết thực trạng chuyển đổi đất đai cùng những biến động về sinh kế, lao động và thu nhập của người dân xã Phúc Lộc, TP. Yên Bái dưới tác động của việc thu hồi 129,97 ha đất phục vụ xây dựng công trình phúc lợi xã hội. Nghiên cứu đã làm rõ áp lực việc làm khi diện tích đất nông nghiệp của xã suy giảm nghiêm trọng từ 112,31 ha xuống còn 20,10 ha, khiến tỷ lệ hộ thuần nông và lao động nông nghiệp giảm mạnh. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và khả thi cao khi phân nhóm chính sách rõ rệt giữa lao động trẻ và lao động lớn tuổi, gắn liền với việc khôi phục làng nghề truyền thống và nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tiền bồi thường tại địa phương.