Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của phát triển hệ thống điểm dân cư 1. Khái niệm và tiêu chí phân loại điểm dân cư Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vực nhất định bao gồm trung tâm xã, ấp, bản, buôn, phum, sóc (có tên gọi chung là thôn) được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá, phong tục, tập quán và các yếu tố khác [9]. Khi phân loại điểm dân cư cần căn cứ vào những đặc điểm cơ bản sau đây: điều kiện sống và lao động của dân cư; chức năng của điểm dân cư; quy mô dân số, quy mô đất đai trong điểm dân cư; vị trí điểm dân cư trong cơ cấu cư dân; cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế.
Trên cơ sở các tiêu chí phân loại trên, hệ thống mạng lưới dân cư nước ta được phân ra thành các loại sau: 1/ Đô thị rất lớn: là thủ đô, thủ phủ của một miền lãnh thổ. Các đô thị này là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, dịch vụ du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế. của quốc gia, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cả nước. 2/ Đô thị lớn: là loại trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch, giao thông, giao dịch quốc tế.
của nhiều tỉnh hay một tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một vùng lãnh thổ. n 6 3/ Đô thị trung bình: là các trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, du lịch của một tỉnh hay nhiều huyện, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của tỉnh hay một vùng lãnh thổ của tỉnh. 4/ Đô thị nhỏ: là các trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất. của một huyện hay liên xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một huyện hay một vùng trong huyện.
5/ Làng lớn: là trung tâm hành chính - chính trị, văn hoá, xã hội, dịch vụ kinh tế của một xã, có vai trò thúc đẩy sự phát triển của một xã hay nhiều điểm dân cư. 6/ Làng nhỏ: là nơi ở, nơi sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông lâm nghiệp. của nhân dân trong một xã. 7/ Các xóm, ấp, trại: là các điểm dân cư nhỏ nhất, với các điều kiện sống rất thấp kém.
Trong tương lai các điểm dân cư này cần xoá bỏ, sát nhập thành các điểm dân cư lớn hơn [12]. Trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ quy định cụ thể về việc phân loại đô thị. Đô thị được phân thành 6 loại: - Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. - Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành.
- Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. - Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị. n 7 - Đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn [11]. Những quy định về quản lý, quy hoạch xây dựng và phát triển khu dân cư 1.
Những quy định về định mức sử dụng đất Theo điều 6 Quyết định 22/UBND tỉnh, ngày 10/04/2006 thì hạn mức giao đất cho hộ gia đình cá nhân tại khu dân cư nông thôn do UBND cấp tỉnh quyết định theo quy định sau: + Các xã đồng bằng không quá 300 m2. + Các xã trung du miền núi, hải đảo không quá 400 m2. Theo công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì đối với định mức sử dụng đất trong khu dân cư được quy định như sau: Bảng 1. Định mức sử dụng đất trong khu dân cư Khu vực đồng bằng Khu vực miền núi ven biển trung du Loại đất Diện tích Tỷ lệ Diện tích Tỷ lệ (m2/người) (%) (m2/người) (%) - Tổng số 74 - 97 100,00 91 - 117 100,00 - Đất ở 55 - 70 64 - 82 70 - 90 67 - 87 - Đất xây dựng các công trình công cộng 2-3 2-4 2-3 2-3 - Đất làm đường giao thông 6-9 7 - 11 9 - 10 9 - 10 - Đất cây xanh 3-4 4-6 2-3 2-3 - Đất tiểu thủ công nghiệp 8 -11 9 - 13 8- 11 8 - 11 (Nguồn: công văn số 5763/BTNMT - ĐKTK ngày 25/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) [6].
Những quy định về quản lý đất đai và quản lý quy hoạch xây dựng * Quản lý đất đai - Đất ở của mỗi hộ gia đình được quy định hạn mức cụ thể tuỳ theo từng địa phương dựa trên căn cứ điều 83, 84 của Luật Đất đai năm 2003. - Các loại đất chuyên dùng phục vụ yêu cầu xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở và phục vụ lợi ích công cộng phải được sử dụng theo đúng mục đích trên cơ sở phương án quy hoạch thiết kế đã được phê duyệt. * Quản lý quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn Việc quản lý quy hoạch trước hết là đối với việc sử dụng đất đai cho thiết kế đường xá, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật và môi trường nông thôn.Đối với đất ở của từng hộ gia đình trong điểm dân cư hiện có, khi tiến hành quy hoạch cải tạo nếu có những kiến nghị về điều chỉnh đất đai cần có phương án đền bù thoả đáng khi trưng dụng đất phục vụ lợi ích công cộng hoặc dồn đổi giữa các chủ sử dụng đất với nhau. Thực trạng và xu thế phát triển hệ thống điểm dân cư một số nước trên thế giới 1.
Các nước châu Âu 1. Hà Lan Vương quốc Hà Lan không được thiên nhiên ưu đãi, sau thiên tai nặng nề trong thế kỷ XIV, nhân dân Hà Lan đã tiến hành từng bước việc khoanh vùng rút nước để làm khô một diện tích rất lớn đất trũng nhằm mở mang diện tích đất đai sinh sống. Trên các vùng đất trũng đó được chia thành từng khu để lập các điểm dân cư nông nghiệp. Trung tâm của vùng xây dựng một thành n 9 phố cỡ 12000 dân với các công trình công cộng đạt trình độ cao, xung quanh thành phố là các làng cách nhau từ 5 - 7 km với quy mô mỗi làng (village) khoảng 1500 - 2500 dân.
Trong mỗi làng được xây dựng đầy đủ các công trình văn hoá xã hội và nhà ở cho nông dân, công nhân nông nghiệp, mỗi làng có các xóm (hamlet) với quy mô khoảng 500 người. Sản xuất nông nghiệp được tổ chức theo kiểu các điền chủ thuê đất của Nhà nước, tập hợp nhân công canh tác. Số người này trở thành công nhân nông nghiệp và sống trong các làng nói trên. Mạng lưới giao thông được tổ chức rất tốt, đường ô tô nối liền các điểm dân cư đảm bảo liên hệ thuận tiện và nhanh chóng từ nơi ở đến các cánh đồng và khu vực tiêu thụ chế biến [26].
Anh Quy mô làng xóm của nước Anh thường từ 300 - 400 người, khoảng 100 - 150 hộ sinh sống. Tuy dân số ít nhưng đầy đủ các công trình văn hoá, xã hội. Trong các khu dân cư có đường giao thông dẫn đến từng nhà, không khí trong lành, phong cảnh đẹp và yên tĩnh. Chính vì vậy mà nhiều người dân muốn bỏ chỗ ở không thoải mái trong các căn hộ khép kín nơi đô thị đi tìm chỗ ở lý tưởng nơi miền quê.
Do sự di chuyển một bộ phận dân cư ở các thành phố về sống ở nông thôn mà cơ sở dịch vụ văn hoá, xã hội của làng quê truyền thống được cải thiện, nó trở thành các khu ngoại ô của đô thị lớn hay khu công nghiệp. Đây là xu hướng khác hẳn so với các nước khác trên thế giới [26]. Khu vực Châu Á 1. Khu vực Đông Nam Á Theo Colins Free stone, trong công trình nghiên cứu các yếu tố về kinh tế chính trị làng xóm vùng Đông Nam Á [30] đã tổng kết những vấn đề chung nhất trong việc quy hoạch xây dựng làng của một số nước thuộc vùng này theo xu hướng: - Dân cư bố trí dọc theo kênh rạch hoặc theo đường giao thông và đó cũng là đường giao thông chính liên hệ giữa các điểm dân cư.
- Nhà ở bố trí phân tán, không có định hướng từ ban đầu khi mới hình thành điểm dân cư. - Khu ở của điểm dân cư thường rất gần với khu sản xuất. - Các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình phục vụ công cộng ít được quan tâm trong từng điểm dân cư mà chỉ được bố trí cho từng cụm gồm nhiều điểm dân cư, làng nào cũng có một trung tâm công cộng nhỏ, gồm các công trình sinh hoạt văn hoá, hành chính hoặc tín ngưỡng chung như đình chùa, chợ… - Quy mô làng xóm thường nhỏ, nằm rải rác trong hệ thống đồng ruộng canh tác. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng, người đông.
Dân số trên 1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm xấp xỉ 80%. Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu dẫn đường, Chính phủ n 11 hỗ trợ, nông dân xây dựng. Giải quyết trước mắt vấn đề nước sinh hoạt cho hàng trăm triệu nông dân; cải tạo và xây dựng mới 1,2 triệu km đường giao thông ở nông thôn; hoàn thiện hệ thống dịch vụ y tế khám, chữa bệnh ở nông thôn và chuyển dịch việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn. Đồng thời với những công việc trên, trong việc xây dựng nông thôn mới, Trung Quốc còn áp dụng các biện pháp thúc đẩy phát triển sự nghiệp giáo dục và y tế khám, chữa bệnh ở khu vực nông thôn 1.
Tổng quan về phát triển khu dân cư ở Việt Nam 1. Khái quát chung Việc nghiên cứu về điểm dân cư ở nông thôn trước hết phải nói đến làng.