mở đầu cho nhiều bài báo khoa học về trầm cảm. Theo DSM-V của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ: Trầm cảm là một rối loạn tâm trạng nghiêm trọng và phổ biến, bệnh nhân mắc trầm cảm sẽ trải qua cảm giác buồn bã và tuyệt vọng dai dẳng, mất hứng thú với các hoạt động mà họ từng yêu thích. Ngoài các vấn đề về cảm xúc do trầm cảm gây ra, nhiều người cũng có thể biểu hiện bằng các triệu chứng thể chất như đau mãn tính hoặc các vấn đề tiêu hóa. Để được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm, các triệu chứng phải xuất hiện ít nhất hai tuần [21] Tại Việt Nam, nếu như trước kia, trầm cảm hay được nhắc đến ở đối tượng phụ nữ sau sinh và người cao tuổi thì hiện nay trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai.
Đặc biệt là tình trạng trầm cảm ở đối tượng thanh thiếu niên từ 14-29 tuổi đang ở mức đáng báo động (theo tạp chí Tâm lý học Việt Nam) Theo Bảng phân loại thống kê Quốc tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan, bản sửa đổi lần thứ 10 (ICD-10): trầm cảm (Depression) là một rối loạn cảm xúc thường được biểu hiện bằng khí sắc trầm; mất mọi quan tâm hay thích thú; giảm năng lượng dẫn tới tăng sự mệt mỏi và giảm hoạt động; các triệu chứng tồn tại trong khoảng thời gian ít nhất 2 tuần. Ngoài ra, còn có thể có các triệu chứng khác như (1) giảm sự tập chung chú ý; (2) giảm tính tự trọng và sự tự tin; (3) ý tưởng bị tội và không xứng đáng; (4) nhìn vào tương lai ảm đạm bi quan; (5) ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát; (6) rối loạn giấc ngủ; (7) ăn ít ngon miệng. Theo Andrew Colman đã định nghĩa năm 2003: “ trầm cảm là sự mất hứng thú hoặc mất sự thỏa mãn, hài long trong những hoạt động trước đây cùng một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan”, nặng hơn có thể ảnh hưởng lên hệ tiêu hóa gây “ chứng biếng ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ ( đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, có ý nghĩ về cái chết hoặc tự tử. Xuất hiện như nhiều triệu chứng của loạn thần” [20] Không phải ai bị trầm cảm cũng trải qua mọi triệu chứng.
Một số người chỉ gặp một vài triệu chứng trong khi những người khác có thể gặp nhiều triệu chứng. Một số triệu chứng dai dẳng cùng với tâm trạng không ổn định là cần thiết để chẩn đoán trầm 7 cảm nặng, nhưng cũng có những người chỉ có một số triệu chứng nhưng kèm theo trạng thái buồn bã có thể giúp ích để chẩn đoán và điều trị chứng trầm cảm. Mức độ nghiêm trọng, tần suất của các triệu chứng tùy thuộc vào từng cá nhân và tình hình bệnh tật cụ thể của họ. Các triệu chứng cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn bệnh [22] Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm: DSM-5 đưa ra tiêu chí sau để chẩn đoán trầm cảm.
Cá nhân đó phải trải qua năm triệu chứng trở lên trong cùng khoảng thời gian 2 tuần và ít nhất một trong các triệu chứng phải là (1) tâm trạng chán nản hoặc (2) mất hứng thú hoặc vui vẻ. Tâm trạng chán nản hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày. Giảm hứng thú hoặc niềm vui rõ rệt đối với tất cả, hoặc hầu như tất cả, các hoạt động hầu hết trong ngày, gần như mỗi ngày. Giảm cân rõ rệt khi không ăn kiêng hoặc tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác thèm ăn gần như mỗi ngày.
Suy nghĩ chậm lại và giảm vận động (người khác có thể quan sát được chứ không chỉ cảm giác bồn chồn chủ quan hoặc bị chậm lại). Mệt mỏi hoặc mất năng lượng gần như mỗi ngày. Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi quá mức hoặc không phù hợp gần như mỗi ngày. Khả năng suy nghĩ hoặc tập trung giảm sút, hoặc thiếu quyết đoán, gần như mỗi ngày.
Suy nghĩ về cái chết, ý định tự tử lặp đi lặp lại mà không có kế hoạch cụ thể hoặc có ý định tự sát hoặc kế hoạch cụ thể để tự sát.2 ĐẶC ĐIỂM TRẦM CẢM Ở NGƯỜI SAU NHIỄM SARS-COV-2 1.1 Đặc điểm dịch tễ, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng của trầm cảm ở bệnh nhân sau nhiễm SARS-CoV-2 Sự xuất hiện của dịch Covid khiến cho số người trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ, stress… tăng đột biến, kể cả số người tự tử do trầm cảm. COVID-19 xuẩt hiện gây ảnh hưởng đến sức khỏe và nhiều khía cạnh đời sống của con người. Nó khiến con 8 người rơi vào tình trạng lo âu, sợ hãi, suy nghĩ tiêu cực và tạo ra một sang chấn tâm lý trên diện rộng. Sang chấn tâm lý này có thể phát triển thành trầm cảm.
Đặc biệt là những người đã từng bị nhiễm vi rút, đã trải qua quá trình điều trị Covid, chứng kiến sự ra đi của người thân hoặc người xung quanh. Bên cạnh đó, sang chấn tâm lý này còn tiếp tục tác động đến tình trạng hậu covid, khiến nó kéo dài, dai dẳng với các triệu chứng phức tạp, không rõ nguyên nhân, lặp lại hay phát triển ngày một nghiêm trọng hơn. Tuy là bệnh nguy hiểm, nhưng trầm cảm vẫn chưa thực sự được quan tâm và chú trọng. Trong một cuộc khảo sát năm 2014 của Tổ chức Y tế thế giới, WHO báo cáo rằng chỉ có 0,91 bác sĩ tâm thần trên 100.000 dân ở Việt Nam, tức là gần 110.000 dân mới có một bác sĩ tâm thần.
Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng chăm sóc sức khỏe tâm thần ở nước ta còn kém phát triển so với nhiều nước trong khu vực châu Á. Ở nước ta hiện nay có khoảng 36 bệnh viên và 6000 giường bệnh dành cho bệnh nhân nặng. Hơn nữa, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất về sức khỏe tâm thần không được phân bổ đều ở các khu vực, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, một số tỉnh còn không có bác sĩ và khoa tâm thần. COVID-19 xuất hiện khiến cho gánh nặng về y tế càng lớn hơn bao giờ hết Đặc điểm dịch tễ: Theo một báo cáo: tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm liên quan hậu COVID-19 chủ yếu dao động từ 21% [20] đến 45% [24].
Công cụ sàng lọc chủ yếu Bảng câu hỏi sức khỏe bệnh nhân gồm 9 câu hỏi (PHQ-9), được thực hiện bởi 38 nghiên cứu. Deng và cộng sự đã tìm thấy ảnh hưởng của các công cụ sàng lọc được sử dụng đối với tỷ lệ triệu chứng trầm cảm. Tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất được ghi nhận thông qua PHQ-9 và Thang đo trầm cảm tự đánh giá Zung (ZSDS) (lần lượt là 47–52% và 52–53%). Ngoài ra, hai phân tích tổng hợp đánh giá tần suất xuất hiện các triệu chứng trầm cảm của những bệnh nhân hậu COVID-19 cho kết quả ấn tượng 74–88 % so với điều tra cắt ngang chỉ là 34–44% [24] cho thấy các phân tích theo nhóm nhỏ mang lại kết quả chính xác hơn về các triệu chứng trầm cảm trong giai đoạn hậu COVID-19.
Theo các bằng chứng hiện nay về hậu COVID-19, tỉ lệ bệnh nhân nữ có khả năng gặp mắc phải các triệu chứng trầm cảm cao hơn (tỷ lệ mắc chung từ 46% đến 50%) so với bệnh nhân nam (tỷ lệ mắc chung từ 32% đến 39%) [21]. Ngoài ra, mức độ nghiêm trọng của COVID-19 cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ triệu chứng trầm cảm. Deng và các đồng nghiệp 9 đã tìm thấy tần suất các triệu chứng trầm cảm tăng lên ở bệnh nhân nhập viện (48%) so với bệnh nhân ngoại trú (35%) và tỷ lệ các triệu chứng trầm cảm có thể cao hơn ở những bệnh nhân bị bệnh nặng (66,3%) so với những người ổn định về mặt lâm sàng (30,9%) [25]. Hơn nữa, Deng và các đồng nghiệp đã đưa ra các yếu tố liên quan khác với các triệu chứng trầm cảm, chỉ ra các đặc điểm sinh lý (BMI, tuổi…) và xã hội (nghề nghiệp, trình độ văn hóa, nơi sống…) đều có thể dẫn đến trầm cảm sau COVID-19 [24].
Về mức độ trầm cảm hậu COVID-19, nhìn chung, tỉ lệ các triệu chứng trầm cảm nằm trong khoảng từ 21 đến 33,7%. Trong đó trầm cảm nhẹ chiếm tỷ lệ 29–33%, tiếp theo là trung bình 14–17% và triệu chứng trầm cảm nặng tỷ lệ 7– 10% [24]. Đáng chú ý, những người bị nhiễm SARS-CoV-2 dễ xuất hiện các triệu chứng trầm cảm hơn (tỷ lệ chung là 41,7%) so với nhóm người không mắc bệnh (tỷ lệ chung là 31,5%) [26]. Hơn nữa, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy sự gia tăng đáng kể về gánh nặng tâm lý trầm cảm ở những người sống sót sau COVID-19 tại thời điểm xuất hiện đại dịch so với tỷ lệ trước khi có đại dịch ở cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú [27].
Nguyên nhân có thể do nỗi đau mất người thân, sự lo sợ về bệnh tật và các gánh nặng về kinh tế, xã hội tác động lên những bệnh nhân hậu COVID-19 Cơ chế bệnh sinh của trầm cảm trên bệnh nhân COVID Các nghiên cứu gần đây đã tìm hiểu cơ chế gây trầm cảm ở bệnh nhân hậu COVID-19, chủ yếu liên quan đến (a) tình trạng đáp ứng miễn dịch toàn thân với viêm do nhiễm SARS-CoV-2 (b) các yếu tố gây căng thẳng do nhiễm SARS-CoV-2 gây ra. Kích hoạt miễn dịch bẩm sinh và tăng các dấu hiệu tiền viêm ở hệ miễn dịch có liên quan đến trầm cảm: Ban đầu các yếu tố gây viêm như TNFα (Yếu tố hoại tử u), IL-6 gây tăng tính thấm của BBB (hàng rào máu não) thông qua việc tác động đến các tế bào nội mô. Ngược lại hàng rào máu não suy yếu có thể là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật và các cytokin khác xâm nhập vào. Khi xâm nhập vào não, các cytokine có thể gây ra một số thay đổi trong não và ảnh hưởng đến quá trình hình thành các tế bào thần kinh làm ảnh hưởng đến hoạt động của các vùng trong hệ viền, do đó dẫn đến các triệu chứng trầm cảm (liên quan đến sự dẫn truyền thần kinh, stress oxy hóa và HPA (trục dưới đồi, tuyến yên và tuyến thượng thận) [28], [29], [30] b.