Chương 1 TÓNG QUAN TÀI LIỆU Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, người ta đã biết dùng một số hóa chất đê diệt côn trùng như Lưu huỳnh, Asen như Homer đã mô tả. Tại Trung Hoa thế kỷ 16. người ta đã biết dùng chất Asen và nicotin dưới dạng chiết suất của thuốc lá để diệt côn trùng [11], Đầu thể kỷ XIX người ta đã dùng Pyrethrum, một chiết xuất từ một loại hoa cúc (Chrysanthemum) phối hợp với thuốc lá, lưu huỳnh, vôi đế diệt côn trùng và nấm. Cuối thế kỷ 19 người ta bắt đầu nghiên cứu có hệ thống việc sử dụng các hóa chất bảo vệ mùa màng và từ đó đến nay hàng loạt hóa chất trừ sâu được sản xuất và ứng dụng rộng rãi trên thế giới: Lúc đầu là các chất có sẵn trong tự nhiên như hợp chất vô cơ và sản phẩm thực vật hay còn gọi là Hóa chất trừ sâu (HCTS) thế hệ thứ nhất, tiếp theo đó đến HCTS thế hệ thứ hai mà đại diện là các hóa chất tổng hợp, đến nay là các chế phẩm sinh học [11].
HCTS sử dụng quá rộng rãi đã dẫn đến việc ra đời các điều luật quy định sử dụng HCTS đầu tiên năm 1900 tại Mỹ. Từ đó nhờ có sự phát triển mạnh của khoa học người ta đã nghiên cứu được khá đầy đủ tác hại của một số nhóm HCTS lên con người, vật nuôi, môi trường và tất cả các nước đều áp dụng các điều luật và các biện pháp an toàn được khuyến cáo trong sử dụng HCTS bước đầu có những kết quả nhất định, tuy nhiên do những nguyên nhân chủ quan và khách quan việc áp dụng các điều luật sử dụng HCTS này còn nhiều khó khăn. Công tác quản lý HCDCT trong lĩnh vực gia dụng và y tế được chuyển từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Bộ Y tế năm 1998 [15]. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, mô hình hợp tác xã không còn, xã viên hợp tác xã quản lý thuốc, hóa chất diệt côn trùng cũng không hoạt động nữa.
Sản xuất nông nghiệp trở về mô hình HGĐ, các dịch vụ nông nghiệp và các loại HCTS trong nông nghiệp chủ yếu do các HGĐ tự lo. Kinh tế thị trường các nghề 4 phụ xuất hiện, đô thị hóa ở một số vùng nông thôn dẫn đến thay đổi trong sinh hoạt; quá trình này làm biến mất một số côn trùng như: chấy, rận, rệp,. vốn rất "gần gũi" với người nông dân. Nhưng nó cũng làm cho một số côn trùng khác xuất hiện nhiều hơn, khó kiểm soát hơn, cơ thể côn trùng đã kháng thuốc và hóa chất.
Trong đời sống sinh hoạt gần đây đã cho thấy một số loại HCDCT dùng trong sinh hoạt được người dân sử dụng nhiều do có nhiều, thuận tiện, lợi về kinh tế. Sự thuận tiện của các sản phẩm HCDCT đã làm thay đổi tập quán diệt trừ côn trùng truyền thống. Từ chỗ HCDCT do hợp tác xã và y tế quản lý ngày nay với sự phát triển của khoa học, công nghệ nó đã an toàn hơn, có thể được quản lý tại các gia đinh và bán tự do trên thị trường. Tuy nhiên gần đây đã xuất hiện bệnh nhân bị nhiễm độc có liên quan đến HCDCT đó là Trung tâm Chống độc - Bệnh viện Bạch Mai đã cấp cứu người bệnh từ các tỉnh đưa lên do hít phải hơi độc của bình xịt diệt muỗi, kiến, gián.
với xu hướng ngày càng nhiều với các biểu hiện dị ứng, rối loạn tiêu hóa, hô hấp, tim mạch [1], Tin từ Bệnh viện Bạch Mai cho biêt, môi tuân phòng khám tiếp nhận khoảng 5-7 bệnh nhân bị ngộ độc thuốc diệt côn trùng trong nhà, với những triệu chứng như: dị ứng, đau Ngộ độc vì dùng thuôc diệt muỗi đầu, chóng mặt, xoang, suy hô hấp. gây tổn thương gan, phổi. Những kiến thức cơ bản về côn trùng học và việc dùng hóa chất để diệt các côn trùng gây hại (Ảnh minh họa) 1. Những kiến thức cơ bản về côn trùng học - Hình thái và phát triển Kích thước côn trùng dao động khoảng từ trên dưới 1 mm tới khoảng 180 mm về chiều dài.
Côn trùng có cơ thể phân đốt và được bảo vệ bởi một bộ xương ngoài, một lớp cứng được cấu tạo chủ yếu bởi kitin. Cơ thể được chia thành đầu, 5 ngực và bụng. Trên đầu có một cặp râu là cơ quan cảm giác, một cặp mắt kép và 2 mắt đơn (ở giai đoạn sâu non có thể là 6 mắt đơn) và một miệng. Bụng có cơ quan bài tiết và cơ quan sinh sản.
Côn trùng có một hệ tiêu hoá hoàn chỉnh, gồm một ổng liên tục từ miệng tới hậu môn, khác với nhiều loài động vật chân khớp đơn giản khác có hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh. Cơ quan bài tiết gồm các ống Manphigi (Malpighian), với chức năng thải các chất thải chứa nitơ, ruột sau làm nhiệm vụ điều hoà áp suất thâm thấu, đoạn cuối ruột sau có khả năng tái hấp thu nước cùng với muối Na và K. Vì vậy, côn trùng thường không bài tiết nước ra cùng với phân, thực te thì chúng cho phép dự trữ nước trong cơ thể. Quá trình tái hấp thu này giúp chúng có thể chịu đựng được với điều kiện môi trường khô và nóng [18].
Hầu hết côn trùng có hai cặp cánh liên kết với đốt ngực 2 và 3. Côn trùng là động vật không xương sống duy nhất đã tiến hoá theo hướng bay lượn và chính điều này đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công của chúng. Các côn trùng có cánh và những côn trùng không cánh thứ sinh đã tạo nên nhóm có cánh (Pterygoid). Cơ chế bay của côn trùng cho đến nay vẫn chưa được tìm hiểu một cách đầy đủ, người ta cho rằng nó phụ thuộc rất lớn vào khối không khí nhiễu loạn do cánh tạo ra.
Ở những côn trùng nguyên thuỷ lại dựa chủ yếu vào tác động của hệ cơ lên cánh và cấu trúc của cánh. Ở những bộ tiến hoá hơn như Neoptera, cánh thường gập lại trên lưng khi chúng nghỉ ngơi. Ở những côn trùng này, cánh được hoạt động bởi các cơ bay gián tiếp mà giúp cánh vận động bằng cách ép mạnh lên thành ngực. Những cơ này có thể co lại khi bị căng ra mà không cần sự điều khiển của hệ thần kinh, điều này cho phép chúng tạo ra tàn số co dãn cơ tương đối cao [18].
- Tập tính Nhiều loài côn trùng có các cơ quan cảm giác rất tinh tế. Trong một số trường hợp, các giác quan của chúng nhạy cảm hơn con người rất nhiều. Ví dụ, ong có thể nhìn được trong phổ bức xạ cực tím để tìm kiếm nơi hút mật là những bông hoa có bức xạ này để "dẫn đường" cho ong. Bướm đực có cái "mũi chuyên hóa" là đôi ăng ten (ở bướm ngày ăng ten có chóp tròn ở đầu mút và ở ngài (bướm đêm) lại ■ 6 có dạng lông vũ hoặc không có đầu mút tròn) có thế ngửi thấy pheromon của bướm cái từ khoảng cách vài kilomet [18], Các côn trùng có tập tính xã hội như kiến hay ong, chúng sống cùng nhau trong một tập đoàn lớn và được tổ chức rất tốt.
Các cá thề trong tập đoàn tương đối giống nhau về bộ gen (do trinh sản) nên người ta có thê coi cả tập đoàn như một "siêu cơ thể". Đứng đầu một thị tộc côn trùng như vậy là con chúa-con cái duy nhât có khả năng sinh sản (và chỉ đảm nhiệm chức vụ này trong bầy và là mẹ của mọi con côn trùng khác trong thị tộc, bao gồm những con thợ là những con cái không có khả năng sinh sản, thực hiện mọi nhiệm vụ của tổ, từ kiếm thức ăn, vệ sinh tổ và vệ sinh con chúa, chăm sóc ấu trùng. Con chúa điều khiển lũ con của mình bằng pheromon, và cứ vào mồi mùa sinh sản mới, chúng lại cho ra đời một lứa con chúa là hậu duệ của mình, khi trưởng thành những con này sẽ bay đi để tạo nên một thị tộc riêng, những đàn kiến cánh bay vào nhà bạn chính là hình ảnh minh họa rõ nét của chúng. Còn những con thợ thì được sinh ra hằng ngày với tốc độ chóng mặt.
Còn những con đực chỉ đóng vai trò sinh sản [18]. Một tập tính quan trọng của côn trùng là một vài loài và ở một số giai đoạn biến thái chúng có thời kỳ ngủ đông (hibernate) và thời kỳ đình dục (diapause) [18]. - Vai trò của côn trùng với môi trường và cuôc sổng của con người Chỉ có 0,1% các loài côn trùng là đi ngược lại lợi ích của con người. Nhiều côn trùng được coi là những con vật có hại với loài người vì chúng truyền bệnh (ruồi, muỗi), phá hủy các công trình (mối), hay làm hỏng các sản phấm lương thực (mọt).
Các nhà côn trùng học đã đưa ra nhiều biện pháp để kiểm soát chúng mà phổ biến nhất là thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, ngày nay các phương pháp kiểm soát bằng sinh học (methods of biocontrol) đang ngày càng được dùng phổ biến hơn. Mặc dù các côn trùng có hại thường nhận được nhiều sự quan tâm hơn, bên cạnh đó vẫn có nhiều loài có lợi cho môi trường và con người. Một số loài thụ phấn cho các loài thực vật có hoa (ví dụ ong, bướm, kiến.
Sự giao phấn (pollination) là sự trao đổi (hạt phấn) giữa các thực vật có hoa để sinh sản. Các loài côn trùng khi 7 lấy mật và phấn hoa đã vô tình tiến hành giao phấn. Ngày nay, một loạt các vấn đề về môi trường đã làm giảm các quần thể "nhà giao phấn" (pollinator} này. số lượng các loài côn trùng được nuôi với mục đích làm vật trung gian quản lý việc thụ phấn cho thực vật đang trong thời ký phát triển thịnh vượng [18].
Sử dụng hóa chất đế diệt côn trùng gây hại HCDCT tại HGĐ về gốc cơ bản vẫn thuộc nhóm HCBVTV, Việt Nam hiện nay chủ yếu nhập khau [10]. Khái niệm Tổ chức Nông lương thế giới (FAO, 1986) định nghĩa Hoá chất trừ sâu là bất kỳ một chất nào hay hồn hợp các chất nào được dùng để đề phòng, phá huỷ hay diệt bất kỳ một sinh vật có hại nào (pest), kể cả các véc tơ lây truyền bệnh của người hay súc vật, những loại cây cỏ dại hoặc các sinh vật gây hại hoặc can thiệp trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị thực phẩm, lương thực, gồ và sản phẩm, thức ăn gia súc [24], Thuật ngữ "Hoá chất trừ sâu" còn bao gồm những chất dùng để điều hoà tăng trưởng cây trồng, làm rụng lá, hút ẩm, chất làm thưa quả hoặc phòng rụng lá do chín sớm, những chất dùng trong hoặc sau vụ thu hoạch để phòng hư hỏng khi thu hái hay vận chuyển.