ĐẶT VẤN ĐỀ Ô nhiễm asen trong nguồn nước sinh hoạt là một vấn đề mang tính cấp thiết vì nó ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Vấn đề này đã được phát hiện từ những năm 80 của thế kỷ 20 tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và là vấn đề hết sức trầm trọng [30], [32], [38], [40], [44]. Vào năm 1983 tại Bang Tây Bengal - Ấn Độ người ta phát hiện 200.000 ca nhiễm độc và khoảng một triệu người đang nằm trong vùng bị phơi nhiễm. Tại Bangladesh, một quốc gia đứng đầu về số lượng giếng khoan bơm tay thì sự nhiễm độc nước giếng do asen đã được khẳng định từ năm 1993 và tới nay có khoảng 35 - 77 triệu người có nguy cơ bị nhiễm độc [34].
Asen khi xâm nhập hàng ngày vào cơ thể kể cả hàm lượng thấp cũng gây ra những tác hại cho sức khỏe được biểu hiện dưới 2 dạng: nhiễm độc cấp tính và nhiễm độc mạn tính. Hàm lượng asen trong tóc là một chỉ điểm sinh học quan trọng được sử dụng khá phổ biến để giúp xác định các đối tượng phơi nhiễm và điều này làm cơ sở cho chiến dịch phòng ngừa hoặc điều trị [27],[50], [58]. Ở Việt Nam, theo ước tính của UNICEF có khoảng 10 - 15 triệu người (khoảng 13,5% dân số) đang sử dụng nước ăn từ nước giếng khoan, tại đồng bằng sông Hồng có khoảng 5 triệu người [23]. Đây là nguồn nước dễ bị nhiễm asen.
Vấn đề ô nhiễm asen trong nước ngầm và nước cấp tại ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận đã được báo cáo. Theo kết quả các nghiên cứu cho thấy có sự ô nhiễm asen trong nguồn nước ngầm, tập trung ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng và sông Mê Kông như: Hà Nội, Hà Tây cũ, Hà Nam, Nam Định, Đồng Tháp [21], [23], [37], [54]. Trong số các tỉnh được phát hiện ô nhiễm asen thì Hà Nam có mức độ ô nhiễm asen rộng trên phạm vi toàn tỉnh (110/116 xã, phường, thị trấn) và hàm lượng asen trong nguồn nước cao: 109 xã (99,1%) có hàm lượng asen trong nước lớn hơn 0,01 mg/lít. Theo 2 báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam, trong 7042 mẫu nước giếng khoan được xét nghiệm cho thấy có 4517 mẫu có hàm lượng asen lớn hơn 0,01 mg/l (chiếm 73,4%), và 3534 mẫu có hàm lượng asen lớn hơn 0,05 mg/l (chiếm 62,1%) [16].
Trong đó có nhiều giếng, hàm lượng asen cao gấp hàng chục lần, đến 100 lần tiêu chuẩn cho phép và là tỉnh có mức độ ô nhiễm cao nhất trong 25 tỉnh thành phố được khảo sát. Các nghiên cứu khoa học về ô nhiễm asen ở Việt Nam chủ yếu tập trung xác định vùng bị nhiễm, mức độ ô nhiễm, nguyên nhân ô nhiễm [21], [35], [36]. Cho tới nay có ít nghiên cứu làm về ảnh hưởng sức khỏe trực tiếp của ô nhiễm asen trong nguồn nước [9], [31]. Xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam được xác định là điểm nóng về ô nhiễm asen trong nước ngầm trên địa bàn tỉnh.
Điều tra bước đầu cho thấy giếng khoan là nguồn nước chính dùng cho sinh hoạt và ăn uống của người dân trong xã. Mặc dù họ cũng có thói quen sử dụng nước mưa để nấu cơm, đun nước uống trong mùa hè có mưa rào, nhưng nhìn chung các HGĐ đều có sử dụng nước giếng khoan là nguồn nước chính cho ăn uống. Phần lớn các HGĐ đều tiến hành lọc nước trước khi dùng nhưng việc lọc nước này có đảm bảo hay không, người dân có nguy cơ phơi nhiễm như thế nào là những câu hỏi chưa được trả lời. Vấn đề đặt ra hiện nay là cần có một nghiên cứu xác định được thực trạng ô nhiễm asen trong nước giếng khoan và đánh giá được nguy cơ sức khỏe của người dân, giúp cho việc định hướng và xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể và chính xác.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng ô nhiễm asen trong nước giếng khoan dùng cho ăn uống và nguy cơ sức khỏe của người dân xã Chuyên Ngoại, Duy Tiên, Hà Nam năm 2011”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng ô nhiễm asen trong nƣớc giếng khoan dùng cho ăn uống của ngƣời dân xã Chuyên Ngoại, Duy Tiên, Hà Nam năm 2011. Đánh giá nguy cơ sức khỏe do phơi nhiễm asen trong nƣớc giếng khoan dùng cho ăn uống của ngƣời dân xã Chuyên Ngoại, Duy Tiên, Hà Nam năm 2011.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phƣơng pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trƣờng 1. Khung lý thuyết về đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường Đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường (Environmental Health Risk Assessment - EHRA) là một công cụ quan trọng trong lĩnh vực sức khỏe môi trường để cung cấp cơ sở khoa học cho việc quản lý những nguy cơ sức khỏe môi trường. Đó là một quy trình logic và hệ thống nhằm đánh giá nguy cơ sức khỏe do việc tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ từ môi trường.
Phương pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường đã được thực hiện ở nhiều nước khác nhau với nhiều nguy cơ khác nhau [28], [31], [33], [39], [69], [78]. Khung lý thuyết về phương pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường đã được Hội đồng Sức khỏe môi trường Australia thống nhất đưa ra vào năm 2004. Theo đó, đánh giá nguy cơ được định nghĩa như sau: “Đánh giá nguy cơ là một quy trình và phương pháp nhằm ước lượng những tác động tiềm tàng của việc tiếp xúc với một yếu tố nguy cơ hóa học, vật lý, sinh học, hay tâm lý xã hội lên một cộng đồng cụ thể dưới một số điều kiện và trong một khoảng thời gian xác định” (Australian enHealth Council 2004) [33]. Theo Hội đồng này, quy trình đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường gồm 5 bước chính, đó là: xác định vấn đề, xác định yếu tố nguy cơ, đánh giá mối quan hệ liều-đáp ứng, đánh giá phơi nhiễm và mô tả nguy cơ được sơ đồ hóa như sau [33]: 5 ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ SỨC KHỔE MÔI TRƢỜNG Xác định vấn đề Đánh giá yếu tố nguy cơ Đánh giá phơi nhiễm Xác định yếu Đánh giá tố nguy cơ liều-đáp ứng Xem xét, Xem xét, theo dõi, theo dõi, đánh giá Mô tả nguy cơ đánh giá QUẢN LÝ NGUY CƠ SỨC KHỎE MÔI TRƢỜNG Hình 1: Khung đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trƣờng 1.
Giải thích thuật ngữ - Yếu tố nguy cơ: Là một yếu tố hay một sự phơi nhiễm mà có thể để lại tác hại đối với sức khỏe. - Phơi nhiễm: Là điều kiện hoặc tình huống khi một yếu tố nguy cơ tiếp xúc với ranh giới cơ thể. - Nguy cơ: Là khả năng một sự kiện có thể xảy ra, tác hại có thể xảy đến với cơ thể, khả năng này biểu thị theo xác suất sẽ có giá trị biến thiên từ 0 đến 1. 6 - Mối quan hệ liều – đáp ứng: Mối tương quan giữa liều của một chất xâm nhập vào cơ thể và tỷ lệ cá thể trong nhóm phơi nhiễm có biểu hiện bị ảnh hưởng nào đó.
Bước 1: Xác định vấn đề (Issue Identification) Bước xác định vấn đề nhằm thu thập và tổng hợp thông tin từ các nguồn khác nhau để tìm hiểu các yếu tố liên quan và thiết lập bối cảnh cho đánh giá nguy cơ. Đây là bước đầu tiên của đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường và bao gồm những nội dung chính là: xác định các yếu tố nguy cơ từ môi trường, lấy mẫu môi trường và phân tích, xem xét yếu tố nguy cơ, sự quan tâm của cộng đồng và giải thích lý do cần thực hiện đánh giá nguy cơ. Bước 2: Xác định yếu tố nguy cơ (Hazard Identification) Bước xác định yếu tố nguy cơ nhằm xem xét khả năng một chất có thể gây tác động tiêu cực lên sức khỏe con người. Mục tiêu của việc xác định yếu tố nguy cơ là cân nhắc xem có đủ bằng chứng để trả lời câu hỏi liệu một chất/yếu tố nào đó có gây tác động tiêu cực tới sức khỏe của cá nhân/cộng đồng bị phơi nhiễm hay không.
Bước 3: Đánh giá mối quan hệ liều-đáp ứng (Dose-response Assessment) Mục tiêu của bước đánh giá mối quan hệ liều-đáp ứng trong mô hình đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường là kết hợp các tài liệu định lượng và định tính về độc chất học để xác định mối quan hệ giữa các mức độ phơi nhiễm khác nhau (liều) và tác động của chúng (đáp ứng), đặc biệt là những tác động tiêu cực. Bước 4: Đánh giá phơi nhiễm (Exposure Assessment) Đánh giá phơi nhiễm nhằm xác định mức độ, tần suất, quy mô, đặc điểm và khoảng thời gian phơi nhiễm trong quá khứ, hiện tại và trong tương lai. Bước đánh giá phơi nhiễm cũng cần xác định rõ đặc điểm của quần thể bị phơi nhiễm cũng như các đường phơi nhiễm. Mô tả nguy cơ (Risk Characterisation) Mục tiêu của bước này là tổng hợp tất cả những thông tin từ những bước trên đây (bước xác định vấn đề, xác định yếu tố nguy cơ, đánh giá mối quan hệ liều - 7 đáp ứng và đánh giá phơi nhiễm) để mô tả nguy cơ về mặt bản chất, quy mô và mức độ ảnh hưởng sức khỏe tới cá nhân và cộng đồng.
Ngoài ra, bước mô tả nguy cơ cũng nhằm đánh giá chất lượng và độ tin cậy của quá trình đánh giá nguy cơ SKMT, cũng như xem xét lại những giả định, những điểm hạn chế và kết luận đưa ra ở từng bước nhằm ước lượng nguy cơ. Áp dụng phương pháp đánh giá nguy cơ sức khỏe môi trường đối với độc chất asen Việc áp dụng phương pháp đánh giá nguy cơ đối với độc chất asen đã từng được Abernathy, Thomas và Calderon thực hiện trên cơ sở tóm lược những tài liệu y văn sẵn có liên quan đến độc chất này [28]. Các tác giả đã tổng kết được bốn ảnh hưởng sức khỏe của asen trên người. Đó là nhiễm độc cấp, ảnh hưởng tim mạch, bệnh đái tháo đường và ung thư.
Tuy nhiên, các tác giả không tiến hành đánh giá mối quan hệ liều - đáp ứng cũng như chưa tiến hành đánh giá phơi nhiễm trong một địa bàn cụ thể nào. Khi chưa có khung lý thuyết về đánh giá nguy cơ, Heather Carlson-Lynch đã bước đầu hệ thống các giá trị tham chiếu với asen trên các cơ sở dữ liệu của Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ (United States Environmental Protection Agency - USEPA) [39]. Những số liệu mà tác giả đưa ra có thể sử dụng để đánh giá mối quan hệ liều - đáp ứng và là cơ sở tốt để so sánh, đánh giá nguy cơ ung thư do phơi nhiễm với asen.