ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh giun truyền qua đất (GTQĐ) gây ra bởi một số loài giun ký sinh trong cơ thể và trong chu kỳ phát triển của chúng có giai đoạn phát triển ở ngoài môi trƣờng đất, đó là giun đũa (Ascaris lumbricoides), giun tóc (Trichuris trichiura) và giun móc/giun mỏ (Ancylotoma duodenale/Necator americanus)[3],[39],[45]. Bệnh gây nhiều tác hại thầm lặng và lâu dài tới sức khỏe con ngƣời. GTQĐ đã trở thành vấn đề y tế công cộng ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là những vùng có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới[30]. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và gây ảnh hƣởng rất lớn tới sự phát triển thể chất, tinh thần, đặc biệt là đối với trẻ em, phụ nữ tuổi sinh sản (PNTSS), phụ nữ có thai[7],[9] Bệnh GTQĐ là một trong những bệnh nhiệt đới bị lãng quên (Neglected tropical diseases - NTDs)[42].
Ở những góc độ khác nhau nó không nhận đƣợc sự quan tâm đúng mức nhƣ bệnh Lao, HIV. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 1,5 tỷ ngƣời hay 24% dân số bị nhiễm các loại giun truyền qua đất đƣợc phân bố rộng rãi ở các khu nhiệt đới và cận nhiệt đới bao gồm cận Sahara - Phi Châu, Châu Mỹ, Trung Quốc và Đông Nam Á[45]. Việt Nam là một nƣớc nằm trong vùng có điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho sự phát triển của các bệnh giun sán. Mặc khác, điều kiện vệ sinh môi trƣờng thấp kém, tập quán canh tác, thói quen sinh hoạt và ăn uống không hợp vệ sinh đặc biệt là ở những vùng nông thôn đã góp phần cho các bệnh giun sán có điều kiện thuận lợi để lan truyền rộng rãi trong cộng đồng.
Theo số liệu điều tra của viện sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ƣơng, qua điều tra đánh giá thực trạng nhiễm GTQĐ ở PNTSS tại hai tỉnh Điện Biên và Hà Tĩnh năm 2013. Kết quả điều tra bằng xét nghiệm Kato – Katz cho thấy: tỷ lệ nhiễm chung ở Điện Biên là 73,6%, Hà Tĩnh 45,1%, tỷ lệ nhiễm chung GTQĐ ở cả hai tỉnh 59,3%. Trong đó tỷ lệ nhiễm giun móc tại Điện Biên là 53,2%, tại Hà Tĩnh 42,6%[1]. Quảng Nam là một tỉnh ở miền Trung, khí hậu nóng và ẩm, điều kiện kinh tế- xã hội đã đƣợc nâng lên một phần nhƣng vẫn còn là tỉnh nghèo, dân trí còn thấp, tình trạng vệ sinh môi trƣờng tuy đƣợc cải thiện nhƣng vẫn tồn tại tập quán sinh hoạt, canh tác lạc hậu.
Theo số liệu thống kê của Viện Sốt Rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung 2 ƣơng năm 2010, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng đƣờng ruột toàn tỉnh là 26,6%, trong đó giun đũa 0,6%, giun tóc 0,4%, giun móc 25,9%. Đặc biệt là tỷ lệ nhiễm giun ở đối tƣợng phụ nữ tuổi sinh sản tại huyện Tiên Phƣớc là 63,6%. Bình Sa là một xã vùng Đông huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nằm dọc theo sông Trƣờng Giang, là một xã thuần nông với diện tích 2.039,85 ha, dân số 6.709 ngƣời trong đó số phụ nữ ở độ tuổi sinh sản là 1. Nghề nghiệp chủ yếu của ngƣời dân là trồng lúa, rau màu và cây lagim (rau thơm, rau quế, cải củ, củ hành.
Đất thâm canh rau màu chiếm 60% diện tích trồng trọt của xã[34]. Do đặc thù canh tác cây trồng, ngƣời phụ nữ một nắng hai sƣơng trên đôi vai của mình là lao động chính trong gia đình, họ thƣờng xuyên phải đảm trách phần lớn các công việc từ gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch và ngƣời dân còn duy trì một số thói quen trong sinh hoạt, canh tác không hợp vệ sinh, dùng tay không mang găng trộn phân chuồng để bón cho cây trồng, trong lao động không mang giày, dép hay đi ủng. Do đó nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh và bị bệnh nhiễm GTQĐ của phụ nữ là rất lớn, ảnh hƣởng đến sức khỏe nhất là đối với phụ nữ độ tuổi sinh sản. Những trƣờng hợp nhiễm gium móc/ giun mỏ nặng sẽ gây mất máu mãn tính và dẫn đến tình trạng thiếu máu thiếu sắt làm tăng khả năng bị tai biến sản khoa, sảy thai, đẻ non, trẻ đẻ thiếu cân.[13] Việc tiếp tục nghiên cứu, mở rộng phạm vi điều tra, bổ sung thêm dẫn liệu đánh giá thực trạng nhiễm và xác định một số yếu tố nguy cơ nhiễm GTQĐ ở PNTSS và đề xuất một số giải pháp phòng bệnh GTQĐ thích hợp nhằm góp phần vào chƣơng trình phòng các bệnh GTQĐ tại tỉnh Quảng Nam có hiệu quả.
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng nhiễm giun truyền qua đất và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi sinh sản tại xã Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm 2015” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ nhiễm và cƣờng độ nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản xã Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm 2015. Mô tả kiến thức và thực hành phòng bệnh giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản xã Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm 2015. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun truyền qua đất ở phụ nữ tuổi sinh sản xã Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam năm 2015.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh học, bệnh học của giun đũa, giun tóc, giun móc/mỏ: 1.1 Bệnh giun đũa a) Đặc điểm sinh học Bệnh giun đũa do giun đũa (Ascaris lumbricoides) ký sinh trong cơ thể ngƣời gây nên. Đây là một loại giun lớn, có hình thể dài và to nhƣ chiếc đũa. Giun đũa cái lớn hơn giun đũa đực. Con cái dài từ 20-25cm, con đực dài từ 15-20cm.
Giun đũa có màu hồng nhạt hay màu trắng sữa. Giun đực và giun cái trƣởng thành cùng sống ký sinh ở phần đầu và phần giữa ruột non[33]. b) Chu kỳ phát triển của giun đũa: Giun đũa sống ở trong ruột non của ngƣời. Giun đũa đực và giun đũa cái trƣởng thành giao hợp và đẻ trứng.
Trứng theo phân ra ngoại cảnh. Đời sống của giun đũa ngắn, thƣờng kéo dài từ 13 – 15 tháng. Quá thời gian này, giun đũa thƣờng bị nhu động ruột đẩy ra ngoài theo phân. Ngoại cảnh là nơi ấp ủ trứng giun đũa.
Khi trứng giun đũa ra ngoại cảnh gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, có oxy) trứng giun từ một nhân sẽ phát triển đến giai đoạn có ấu trùng trong trứng. Nếu ngƣời ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng này, khi vào ngƣời, trứng có ấu trùng sẽ phát triển thành giun đũa trƣởng thành[1],[39]. Tuy nhiên, từ khi ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng cho đến khi ngƣời mang giun đũa trƣởng thành, ký sinh ở ruột phải trải qua thời gian trong vòng 60 ngày. Và bản thân ấu trùng giun đũa cũng phải có một quá trình chu du trong cơ thể ngƣời rồi mới tới đƣợc nơi ký sinh là ruột non.
Quá trình chu du nhƣ sau: ngƣời ăn phải trứng giun đũa có ấu trùng, khi vào dạ dày, nhờ sức co bóp cơ học và dịch vị làm cho ấu trùng thoát ra khỏi vỏ, ấu trùng chui qua các mao mạch ở ruột vào tĩnh mạch mạc treo để đi về gan. Thời gian qua gan là từ sau 3 – 7 ngày. Ấu trùng không ở lại gan mà chỉ đi qua gan, thời gian từ 3 – 4 ngày. Sau đó ấu trùng lại đi theo tĩnh mạch trên gan để vào tĩnh mạch chủ và vào tim phải.
Từ tim phải ấu trùng theo động mạch phổi để tới phổi. Ấu trùng giai đoạn phổi là thời gian ấu trùng xuất tiết và là kháng nguyên đã gây ra bệnh lý cho ngƣời. Ngƣợc lại giai đoạn này cũng là thời gian gây cho cơ thể xuất 5 hiện kháng thể chống giun đũa. Sau khi thay vỏ, các ấu trùng từ phế nang di chuyển về vùng hầu họng, từ đó ngƣời nuốt ấu trùng xuống ruột và ấu trùng sẽ trở thành giun đũa ký sinh ở ruột non.
(Nguồn : http://www.gov/dpdx) Hình 1.1 Chu kỳ phát triển của giun đũa Ascaris lumbricoides 1.Giun đũa trƣởng thành ký sinh ở ruột non.Trứng giun đũa thụ tinh và không thụ tinh bài xuất ra ngoại cảnh 3,4.Trứng có ấu trùng và xâm nhập vào cơ thể qua đƣờng miệng 5,6.Ấu trùng giun thoát vỏ, theo máu lên gan – tim – phổi 7.Ấu trùng lên hầu họng để xuống đƣờng tiêu hóa – giun trƣởng thành. Tóm lại, chu kỳ phát triển của giun đũa đòi hỏi phải có vật chủ là ngƣời và môi trƣờng để hoàn thành. Về vật chủ: giun đũa A.lumbricoides là loài giun đũa đặc hiệu cho ngƣời, loài này không có khả năng ký sinh ở loài động vật khác. Ngƣợc lại, các loài giun đũa khác (giun đũa trâu bò, giun đũa lợn…) cũng không có khả năng nhiễm sang ngƣời.
6 Trong thực tế, có thể có tình trạng lạc chủ, nghĩa là ngƣời có thể nhiễm phải giun đũa của chó, lợn… trong tình trạng “mắc phải”. Trong trƣờng hợp này, ấu trùng lạc chủ không có khả năng phát triển trong cơ thể ngƣời đến giai đoạn trƣởng thành ở ruột, nhƣng ngƣợc lại, cơ thể ngƣời có phản ứng miễn dịch mạnh đối với loài giun lạ này. Hiện tƣợng này gọi là hiện tƣợng lạc chủ. Ngoài hiện tƣợng lạc chủ, chu kỳ của giun đũa còn có hiện tƣợng lạc chỗ là vì trong quá trình chu du, ấu trùng vẫn tiếp tục phát triển về kích thƣớc nên giun có thể mắc lại ở các kẽ van tim, hay có thể vào tĩnh mạch, tới phổi để vào hệ thống động mạch chủ, từ đó ấu trùng có thể di chuyển tới các nơi khác của cơ thể ngƣời.
Trong ngoại khoa, ngƣời ta có thể tìm thấy giun đũa ở tim, ở động mạch khoeo… Hiện tƣợng lạc chỗ gây ra các bệnh của hệ thống tuần hoàn. Chúng ta rất cần biết để phân biệt giun đũa lạc chỗ và giun đũa di chuyển (giun chui ống mật, giun chui vào ống tụy, giun chui vào ruột thừa, giun chui lên dạ dày, giun chui vào ống tai) [3], [33]. c) Tác hại: Bệnh giun đũa gây cho con ngƣời các tác hại tiềm tàng do khả năng chiếm thức ăn của chúng ở ruột non. Ngoài việc chiếm protein của cơ thể, giun đũa còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hoá và dinh dƣỡng, rối loạn quá trình thẩm thấu thức ăn do việc gây tổn thƣơng niêm mạc ruột tại vị trí ký sinh, chiếm vitamin, đặc biệt là vitamin A và vitamin D.
Nếu số giun sống ký sinh trong cơ thể càng nhiều (có trƣờng hợp tới trên 1.000 con giun sau khi mổ tắc ruột do giun)[25], thì giun chiếm thức ăn càng nhiều. Do đó, làm ảnh hƣởng đến thể lực, tuổi thọ của mỗi ngƣời, đặc biệt là làm giảm khả năng phát triển thể lực và trí lực của trẻ em.