ĐẶT VẤN ĐỀ Nước sinh hoạt là một trong những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của con người. số các nguồn tài nguyên, nguồn nước tưởng như vô tận nhưng thực tế, nước ngọt chỉ chiếm khoảng 2.7%, trong đó chỉ có 0,03% nguồn nước được con người sử dụng hiệu quả [52]. Trong những năm gần đây, tài nguyên nước ngọt đã ngày càng trở nên khan hiếm khiến gần I tỷ người vẫn đang phải sử dụng nguồn nước không đảm bảo chất lượng và khoảng l,7 tỷ người đang sống trong điều kiện vệ sinh và xử lý chất thải không an toàn [58]. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch là 70, | %.
Ở nước ta hiện nay có gần 80% dân số sống ở nông thôn, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe cho người nông dân là vô cùng cần thiết. Thêm vào đó điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn cũng như những hạn chế về mặt kiến thức y học, y tế cộng đồng, và còn tồn tại nhiều tập quán , hành vi có hại cho môi trường cũng là nguyên nhân lớn gây ảnh hưởng đến môi trường sống [47]. Vệ sinh môi trường là vấn để ưu tiên của ngành Y tế nước ta hiện nay, trong đó cung cấp nước sạch cho nông thôn là vấn để hàng đầu. Theo điều tra của Hoàng Thị Nghĩa (1992) chỉ 3-5% số giếng khơi tại nông thôn đạt tiêu chuẩn vệ sinh{36].
Lầm sao để cung cấp nước cho nông thôn một cách tiện lợi, hợp vệ sinh, phù hợp với điều kiện sống của người nông dân là vấn để luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và cũng là mong mỏi của mỗi người nông dân. Mục tiêu cụ thể là đến năm 2010 đảm bảo 85% đân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60 lít/ người/ ngày. Theo Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tật của con người có liên quan đến nước, đặc biệt tại các nước đang phát triển như nước ta hiện nay các bệnh có liên quan đến nước thường là phổ biến, khó khống chế và thanh toán[1]. Giải quyết tốt vấn để cung cấp nước sạch sẽ hạn chế được tối đa ô nhiễm môi trường, giảm tỷ lệ mới mắc và có thể tiến tới thanh toán được một số bệnh đang tồn tại nhiều năm như tiêu chảy, tả, ly, thương hàn, các bệnh vẻ da, về mắt.
Cùng với những nỗ lực không ngừng của các cơ quan chức năng, vấn đề nâng cao hiểu biết vẻ sử dụng nước sạch trong mỗi người nông dân cũng là biện pháp không thể thiếu, góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ người dân. Việc thu thập thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành của một nhóm người đân trên cơ sở thực trạng nguồn nước mà họ đang sử dụng là hết sức cần thiết cho mỗi địa phương nhằm đưa các biện pháp sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, phù hợp với điều kiện sống, từ đó hạn chế được các bệnh truyền nhiễm có liên quan đến việc sử dụng nguồn nước, nâng cao sức khoẻ cộng đồng. Theo báo cáo của Trạm y tế xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, tỉ lệ hộ gia đình trong địa bàn xã sử dụng nước hợp vệ sinh là 74,3% năm 2004 (Thấp nhất trên dịa bàn toàn huyện). Thêm vào đó là cách đánh giá hoàn toàn mang tính cảm quan, không đề cập đủ các tiêu chuẩn theo hướng dẫn của Vụ Y tế Dự phòng - Bộ Y tế [13].
Câu hỏi đặt ra là thực trạng chất lượng các nguồn nước và việc cung cấp nước sạch tại xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, nh Hải Dương; tỷ lệ sử dụng nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh thực sự theo các hướng dẫn của Vụ Y tế Dự phòng - Bộ Y tế là bao nhiêu? Các lý do còn tồn tại là gì (do kinh tế, nhận thức.) ? Xuất phát từ thực trạng đó, chúng tối tiến hành nghiên cứu đề tài “Thue trạng nguồn nước; kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về sử dụng nước sinh hoạt tại xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, Tỉnh Hải Dương năm 2005" MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chủng Mô tả thực trạng chất lượng nguồn nước được sử dụng trong sinh hoạt tại xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; bước đầu đánh giá sự ô nhiễm của các nguồn nước được sử dụng. Trên cơ sở đó có giải pháp thích hợp để tăng tỷ lệ dân sử dụng nước sạch tại địa bàn xã nghiên cứu. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại các hộ gia đình trong xã.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về sử dụng nước sinh hoạt. Để xuất một số giải pháp cải thiện nguồn nước, nâng cao kiến thức và thực hành sử dụng nước tại địa bàn xã. CHUONG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Trữ lượng nước, tình hình cung cấp nước sinh hoạt trên thế giới và tại Việt Nam 1.1/Thực trạng trữ lượng nguồn nước ngọt: Trong tất cả các nguồn nước trên thế giới, 96% là nước đại dương.
Trong số 4% còn lại có 2,53% là nước ngọt nhưng phần lớn nhất ở dạng tuyết va bang(69%). Tổng số lượng nước ngọt bể mặt ở dạng lỏng có thể sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt của con người chỉ chiếm 0,008%. Tùng nguồn nuốc Nguan nie ngat Trinh hàng ven city 91M4 ÂM mạn 481 ‘Sites. be dam lay, hw OMG lang xà lỏn.
Juyel cinly can 18.704 Tổng lượng nước và nước ngọt toàn cầu Tính theo thể tích, có khoảng 1.370 triệu km, trong đó lượng nước ngọt phân ` bố ở các Sông, hồ, nước ngâm ước chừng khoảng 500.000 đến 1 triệu km’, va bang (cũng là nước ngọt) chiếm thể tích khoảng 25 triệu km”. Cuối cùng, nước ngọt có trong khí quyển ở dạng hơi và mây khoảng 50.000 km” và quay trở lại lục địa vào khoảng 120. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Viết Phổ (1992), tổng lượng nước bể mặt kể cả bên ngoài lãnh thổ chảy vào đạt 880 km”, trung bình đầu người là 13.000 m°, cao hơn mức trung bình của thế giới (12. Trong khi đó, theo tiêu chuẩn của thế giới thì nước nào đạt trung bình 10.000 m'/người trở lên thuộc loại giàu tài nguyên về nước.
Như vậy, nếu chỉ tính lượng nước tại chỗ thì ở nước ta chỉ có vùng Tây nguyên là giàu về nước, còn vùng duyên hải Trung bộ và đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long thuộc loại nghèo về nước, và trong tương lai, nước ta sẽ giảm nguồn tài nguyên nước một cách nghiêm trọng, chưa tính nạn ô nhiễm môi trường nước|38]. Nước ngắm chủ yếu chứa trong các tầng trầm tích chất bở rời dé tứ, các lớp tạo thành cabonat hoặc xen kế đá cacbonat, bazan trẻ và một số tạo thành hỗn hợp khác, Theo tính toán dự báo tiềm năng trữ lượng nước ngầm của Việt Nam ước tính khoảng 48 tỉ m'/ năm (17-20 triệu/ ngày)[4§]. Khi nguồn nước bề mặt khan hiếm, nước mưa là nguồn cung cấp nước sạch hữu hiệu, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Lượng mưa ở nước ta rất phong phú và có tiềm năng khai thác lớn.
Theo số liệu của Tổng cục khí tượng thuỷ văn, lượng mưa bình quân hàng năm ở nước ta đạt 1900 - 2000 mm. Vùng Tây nguyên và miền núi phía Bắc đạt 4000 mm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều, ở ven biển Thuận Hải chỉ đạt 500 ~ 600 mm, trong khi đó vùng Bắc Quảng, Ba Tơ đạt tới 4000 — 5000 mm. Lượng mưa thường tập trung vào mùa mưa, tháng 8 ở khu vực Bắc bộ đạt tới 80- 85% tổng lượng mưa cả năm và ở miền Duyên hải, mùa mưa đạt 70- 75%; nhưng vào mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ, thậm chí quá ít tại một số khu vực[45].
Nhu cầu khai thác nước phục vụ sẵn xuất và sinh hoạt: Nguồn nước ngọt bao gồm sông, hồ và nước ngẩm. Trong 3 thế kỷ trở lại đây, người ta đã chứng kiến tốc độ nhanh đáng kể về lượng nước được khai thác từ những nguồn trên với tốc độ khai thác tăng khoảng 35 lần so với tốc độ tăng dân số chỉ có 7 lản, và trong những thập kỷ gần đây thậm chí lượng nước được khai thác còn tăng cao hơn nữa, đặc biệt ở các nước đang phát triển với lý do chủ yếu là phục vụ cho nông nghiệp. Tình hình cung cấp nước sinh hoạt Trên Thế giới: Năm 1980, Liên hợp quốc đã khởi xướng "Thập kỷ quốc tế" vẻ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường (1980- 1990) nhằm tạo điều kiện cho con người được cung cấp nước đẩy đủ và đảm bảo các yêu cầu vệ sinh vào năm 1990. Tại các nước đang phát triển thuộc khu vực Tây Thái bình dương đến năm 1990 đã có thêm 88 triệu đân đô thị và 301 triệu dân nông thôn được cung cấp nước sạch (tỷ lệ dân số trong khu vực được cung cấp nước sạch tăng từ 15 - 100%).
Nam 1989 mdi cé 57% dân số Trung Quốc được cung cấp nước sạch, ở Lào là 42%, ở Malaixia là 100% ở thành thị và 69% ở nông thôn{[60]. Theo kết quả nghiên cứu của Yusup và cs (1990), tại Bangladesh có 34,5% số hộ sử dụng nước giếng khoan nhưng chỉ 11,5% trong số đó là nước hợp vệ sinh. Cũng theo điều tra này 11,5% số hộ sử dụng nước giếng khoan cho mục đích nấu ãn và rửa dụng cụ nấu an, còn lại 88,5% sử dụng nước bể mặt cho các mục đích trên[64]. Theo thống kê của WHO và UNICEE năm 1993, có 61% dân số ở nông thôn và 26% dân số ở thành thị của các nước đang phát triển không được cung cấp nước sạch, đặc biệt ở vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số [6 !].
Tại Việt Nam: Từ năm 1955, Ngành Y tế Việt Nam đã chú ý đến việc cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cho toàn dân. Tuy nhiên do điều kiện chiến tranh, kinh tế còn thiếu thốn dẫn đến việc tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch còn thấp, đặc: biệt là tại khu vực nông thôn. Theo Nguyễn Mạnh Liên (1987) thì nhụ cầu nước bình quân cho mỗi người dân đô thị trong cả nước là 60 lí/ người/ ngày, nhưng thực tế hiện nay chỉ cung cấp được 50 líự ngày[30]. Và cũng còn rất nhiều bất cập trong vấn để cung cấp nước tại các vùng khác nhau.
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga (1993), cung cấp nước sỉnh hoạt cho Hà Nội đạt 100 lí/ người/ ngày và tại Thành phố Hồ Chi Minh là 200 lít/ người/ngày{35]. Dân số nông thôn nước ta chiếm khoảng 80% (năm 1989 là 52 triệu) mà theo số liệu ước tính đến năm 1989 cả nước chỉ có khoảng 3472 ngàn giếng các loại. Như vậy thì 13 người mới có !