Chương 1 có tiêu đề “Chính sách phái cử của Việt Nam và chính sách tiếp nhận của Nhật Bản trong khuôn khổ chương trình thực tập sinh”, giới thiệu hành lang pháp lý của Việt Nam và Nhật Bản liên quan đến chương trình thực tập sinh và những văn bản pháp lý có vai trò lớn trong việc thực hiện chương trình này. Chương 2 với tiêu đề “Thực trạng đời song kinh tế và văn hóa-xã hội của thực tập sinh Việt Nam tai Nhat Bản giai đoạn 2010 — 2020”, chu yếu nêu lên những bất cập mà các thực tập sinh Việt Nam đối mặt trong thời gian làm việc tại Nhật Bản. Chương 2 cũng liệt kê một số vụ việc xảy ra liên quan đến thực tập sinh người Việt Nam trong giai đoạn 2010-2020. Chương 3 với tiêu dé “Đánh giá chương trình đưa thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản giai đoạn 2010-2020 và kiến nghị” nhằm đưa ra những nhận định mang tính khái quát thành một bức tranh tông thể, rút ra những cái được và vấn đề nảy sinh của chương trình thực tập sinh trong giai đoạn 2010- 2020, từ đó nêu lên những kiến nghị điều chỉnh ở các cấp.
CHÍNH SÁCH PHÁI CỬ CỦA VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH TIẾP NHAN NHAT BẢN TRONG KHUÔN KHO CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẬP SINH 1. Các văn kiện ký kết hợp tác Việt Nam — Nhật Bản liên quan đến chương trình thực tập sinh Người lao động Việt Nam có thể đi làm việc tại Nhật Bản theo hai chương trình riêng biệt, đó là chương trình thực tập sinh và Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) về thực tập sinh hộ ly-diéu dưỡng. Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản Theo các điều khoản của VJEPA (ký năm 2008), Nhật Bản đã đồng ý cho công dân Việt Nam nhập cảnh và tạm trú với tư cách là thực tập sinh hộ lý đủ tiêu chuẩn theo luật và quy định liên quan của Nhật Bản. Những cá nhân đủ tiêu chuẩn có thể làm thực tập sinh hộ lý tai Nhật Bản trong thời gian một hoặc ba năm, thời gian này có thé được gia hạn đến bảy năm ké từ ngày nhận được chứng chỉ Kangoshi (hộ lý).
Việt Nam đã trở thành quốc gia thứ ba, sau Indonesia và Philippines, đưa lao động sang Nhật Bản trong lĩnh vực điều dưỡng va chăm sóc. Cục Lao động ngoài nước (DOLAB) thuộc Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội (Bộ LD-TB& XH) được giao trách nhiệm thực hiện chương trình này. Nhóm thực tập sinh hộ lý đầu tiên của Việt Nam đã sang Nhật Bản theo chương trình nay vào năm 2014. Trong khuôn khổ chương trình tuyển dụng điều dưỡng, hộ lý EPA, năm 2019 là năm thứ hai hộ lý EPA Việt Nam tham gia kỳ thi quốc gia Nhật Bản theo quy định.
Trong số 106 người tham gia có 93 người đỗ, đạt tỷ lệ 87,7%, cao hơn mức đỗ bình quân và cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của một số nước Đông Nam Á. Đối với điều dưỡng năm 2019, có 48 điều dưỡng Việt Nam tham gia thi và có 23 người đỗ, đạt tỷ lệ 47,9%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ đỗ của điều 10 dưỡng EPA Indonesia và Philippines. Năm 2020, tỷ lệ điều dưỡng, hộ lý Việt Nam sang Nhật Bản theo EPA đỗ kỳ thi quốc gia của Nhật Bản là hơn 90”% ?. Đối với các thực tập sinh hộ lý, gần hết 3 năm làm việc theo EPA, các thực tập sinh sẽ tham gia kiểm tra, đánh giá trình độ, kỳ kiểm tra này tiêu chuẩn thấp hơn nhiều so với kỳ thi quốc gia.
Đến nay, thực tập sinh hộ lý Việt Nam vẫn chiếm số lượng đông nhất với khoảng 1. Cuối năm 2018, Bộ LĐ-TBXH đã lựa chọn 44 doanh nghiệp thí điểm triển khai đưa thực tập sinh hộ lý sang Nhật Bản (tăng so với con số 6 doanh nghiệp trong đầu năm)°. Mặc dù số lượng công ty được phái cử thực tập sinh hộ lý tăng lên nhưng số lượng nhập cảnh không tăng nhiều do nguồn ứng viên hạn chế, hơn nữa thời gian đào tạo dài. Các cơ sở tiếp nhận đánh giá cao thực tập sinh hộ lý Việt Nam và có nhu cầu tiếp nhận số lượng lớn.
Chương trình thực tập sinh Việt Nam chính thức bắt đầu đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản từ năm 1993 sau khi ký kết với Nhật Bản một Bản ghi nhớ (MOC) vào năm 1992. Ngày 01/7/2010, Nhật Bản điều chỉnh một số quy định liên quan đến việc tiếp nhận thực tập sinh nước ngoài, trong đó có việc thay đổi tư cách lưu trú từ “tu nghiệp sinh” sang “thực tập kỹ năng”. Mục tiêu là nhằm thay đôi quan hệ đào tạo — học việc của tu nghiệp sinh chiu sự điều chỉnh của pháp luật nhập cư, thành quan hệ chủ lao động — người lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động Nhật Bản. ?Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam (2019), Kế quả các ứng viên trong kỳ thi Quốc gia về điều dưỡng, Hộ lý của Nhật Bản năm 2019 theo Hiệp định EPA, https://www.jp/itpr_ja/KequakythiquocgiaNBveholy,dieuuongnam2019.html, truy cập ngày 15/6/2022 3 Báo Người Lao động (2021), Đề nghị tiếp tục đưa thực tập sinh hộ lý sang Nhật Bản, https://m.vn/lao-dong---viec-lam/de-nghi-tiep-tuc-dua-thuc-tap-sinh-ho-ly-sang-nhat-ban- 169344 truy cập ngày 1/1/2022 11 Đề phù hợp với xu thế phát triển mạnh mẽ trong vấn đề xuất khâu lao động, tháng 6/2017, nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cuộc hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe.
Sau hội đàm, các Bộ, ngành và cơ quan hai nước trao đôi 14 văn kiện ký kết, trong đó có Bản ghỉ nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng (MOC) giữa Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Việt Nam với Bộ Lao động - Y tế - Phúc lợi Nhật Bản. Đây là bản thỏa thuận đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Nhật Bản về lĩnh vực này và cũng là bản thỏa thuận đầu tiên Chính phủ Nhật Bản ký với các nước đưa thực tập sinh đến Nhật Bản, đánh dấu sự hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong lĩnh vực này. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Việt Nam - Nhật Bản bao gồm các nội dung chính như: mục đích, xác định cơ quan đầu mối của mỗi bên trong việc triển khai thực hiện, khuôn khổ và cơ chế hợp tác giữa hai nước, trách nhiệm của cơ quan Nhật Bản và trách nhiệm của cơ quan Việt Nam trong việc thực hiện chương trình hợp tác, hiệu lực của MOC, bên cạnh đó còn có 10 phụ lục kèm theo quy định cụ thể các nội dung thực hiện chương trình thực tập kỹ năng giữa hai nước. Các điểm được đánh giá là chính và mới trong MOC gồm: - Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Việt Nam và Nhật Bản trong việc thực hiện chương trình thực tập kỹ năng, như: phía Việt Nam kiểm tra và giới thiệu các doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn đưa thực tập sinh sang Nhật Bản; phía Nhật Ban cấp phép cho các tổ chức quản lý Nhật Bản và cấp chứng nhận kế hoạch tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam cho các cơ sở, đơn vị Nhật Bản theo các tiêu chuẩn quy định trong Bản ghi nhớ.
4 Thông tan xã Việt Nam (2017), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội đàm với Thủ tướng Nhật Ban Shinzo Abe, Báo điện tử Vietnamplus, https://www.vn/thu-tuong-nguyen-xuan-phuc-hoi-dam-voi-thu-tuong-nhat-ban-shinzo- abe/450159.vnp, truy cap ngay 18/10/2022 12 - Tạo cơ chế phối hợp giữa cơ quan chức năng của Việt Nam và Nhật Bản trong việc thông tin cho nhau về tình hình các doanh nghiệp Việt Nam, các tô chức quan ly và các đơn vị, cơ sở tiếp nhận Nhật Ban, qua đó hướng dẫn, kiêm tra và xử lý kịp thời các vụ việc phát sinh; xử phạt doanh nghiệp, tổ chức quản lý, đơn vị và cơ sở tiếp nhận vi phạm các quy định của hai nước; và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thực tập sinh, doanh nghiệp, tổ chức quản lý. - Trong những trường hợp khẩn cấp (thiên tai, khủng hoảng .) và phù hợp hai bên sẽ thông qua cơ quan đại diện ngoại giao tại nước sở tại để giải quyết các vấn đề phát sinh nhằm kịp thời hỗ trợ di chuyền thực tập sinh đến nơi an toàn. - MOC cũng yêu cầu các doanh nghiệp đưa thực tập sinh sang Nhật Bản không được phép thu giữ tiền đặt cọc của thực tập sinh, công khai các khoản thu phí của thực tập sinh dé tránh tình trạng thực tập sinh bị thu các khoản phí cao và trái với quy định của Việt Nam; giảm một số giấy tờ thủ tục hành chính của Nhật Bản đối với người lao động. Điểm đáng chú ý nhất và được đánh giá là khác biệt rõ với trước là văn kiện này đã nâng thời hạn thực tập của thực tập sinh Việt Nam lên 5 năm (trước đây chỉ đến 3 năm); đồng thời mở rộng thêm nhiều ngành nghé, lĩnh vực tiếp nhận thực tập sinh Việt Nam trong thời gian tới (bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp, chế bién thực phẩm và chăm sóc sức khỏe).
Bản ghi nhớ hợp tác có hiệu lực từ ngày 01/11/2017. MOC được ký năm 2017 theo Luật về đào tạo thực tập sinh ky thuật phù hợp và bảo vệ thực tập sinh kỹ năng. Các lĩnh vực chính mà thực tập sinh 5 Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Nhật Bản (2017), Bán ghi nhớ hợp tác về chế độ thực tập sinh kỹ năng (MOC) giữa Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội Việt Nam và Bộ Lao động - Y tế - Phúc lợi Nhật Bản, Trang thông tin Hỗ trợ pháp lý dành cho doanh nghiệp, https://htpldn.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx ?ItemID=13&l=Vanbanchinhsachmol, truy cập ngày 15/6/2022 13 Việt Nam làm việc gồm xây dựng, công nghiệp điện tử, cơ khí, chế tạo (may mặc), chế biến thủy sản, nông nghiệp, xây dựng, vận tải biển và xây dựng. Theo chương trình, thực tập sinh có thể đi làm việc tại Nhật Bản thông qua các đơn vị tuyên dụng được chấp thuận hoặc thông qua một tô chức giám sát tên là Cơ quan phát trién nguồn nhân lực quốc tế Nhật Bản (IM JAPAN).
Lộ trình IM Japan dựa trên thỏa thuận với Bộ LĐ-TB&XH của Việt Nam. Chính sách cơ bản về xuất khẩu lao động Việt Nam ra nước ngoài 1. Chính sách xuất khẩu lao động nước ngoài nói chung Ngày 9/11/1991, Chính phủ ban hành Nghị định 370-HĐBT về quy chế đưa người lao động Việt Nam di làm việc có thời han ở nước ngoài, cho phép các tô chức kinh tế được thành lập và cấp giấy hoạt động xuất khâu lao động. Năm 2006, Luật Người lao động Việt Nam di làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, chính thức được Quốc hội Việt Nam khóa XI thông qua (Số 72/2006/QH11 ngày 29/11 năm 2006), ban hành ngày 12/12/2006 va có hiệu lực từ ngày 1/7/2009.