mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán thuế GTGT và thuế TNDN trong các doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng kế toán thuế GTGT và thuế TNDN tại Công ty TNHH Xây dựng và Thƣơng mại Thanh Huyền. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán thuế GTGT và thuế TNDN tại Công ty TNHH Xây dựng và Thƣơng mại Thanh Huyền. 10 CHƢƠNG 1 L LUẬN CHUNG VỀ KẾ TO N THUẾ GTGT VÀ THUẾ TNDN TRONG C C DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về thuế 1.Thuế và vai trò của thuế trong doanh nghiệp.Khái niệm thuế Theo Phan Tùng Lâm (2013) định nghĩa: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nƣớc do luật pháp qui định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tƣợng chịu thuế nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp.
Do đó, tại thời điểm nộp thuế, ngƣời nộp thuế không đƣợc hƣởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem nhƣ đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nƣớc. Nhƣ vậy , thuế mang tính cƣỡng chế và đƣợc thiết lập theo nguyên tắc luật định. Thuế là một thực thể pháp lý nhân định nhƣng sự ra đời và tồn tại của nó không chỉ phụ thuộc vào ý chí con ngƣời mà còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội của từng thời kỳ lịch sử nhất định. Thuế do cơ quan quyền lực Nhà nƣớc cao nhất ban hành.
Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách Nhà nƣớc và những ảnh hƣởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp. Ðây là nguyên tắc sớm đƣợc ghi nhận trong pháp luật của các nƣớc. Chẳng hạn ở nƣớc nh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nƣớc nếu không đƣợc Quốc hội chấp thuận. ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không đƣợc Quốc hội chấp thuận thì không đƣợc áp dụng.
Hiến pháp 11 của nƣớc Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế. Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Uớy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế. Thuế là khoản nộp mang tính nghĩa vụ bắt buộc của các pháp nhân và thể nhân đối với Nhà nƣớc không mang tính đối giá hoàn trả trực tiếp.
Thuế là nghĩa vụ thanh toán mà các thể nhân và pháp nhân khi có các dấu hiệu và điều kiện đƣợc quy định cụ thể trong Luật thuế thì phải thực hiện đối với Nhà nƣớc và đƣợc đảm bảo thực hiện bằng sự cƣỡng chế của Nhà nƣớc. Thuế là công cụ phản ánh quan hệ phân phối lại của cải vật chất dƣới hình thức giá trị giữa Nhà nƣớc với các chủ thể khác trong xã hội. Nhà nƣớc thu thuế làm phát sinh quan hệ phân phối giữa Nhà nƣớc với các thể nhân và pháp nhân trong xã hội. Ðối tƣợng của quan hệ phân phối này là của cải vật chất đƣợc biểu hiện dƣới hình thức giá trị.
Sự tồn tại và phát triển của Nhà nƣớc trong từng giai đoạn lịch sử, đặc điểm của phƣơng thức sản xuất, kết cấu giai cấp là những nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng đến vai trò, nội dung, đặc điểm của thuế. Do đó, cơ cấu và nội dung của cả hệ thống pháp luật thuế và từng Luật thuế phải đƣợc nghiên cứu, sửa đổi bổ sung, cải tiến và đổi mới kịp thời nhằm thích hợp với tình hình, nhiệm vụ của từng giai đoạn. Ðồng thời phải tổ chức bộ máy phù hợp, đủ sức đảm bảo thực hiện các quy định pháp luật về thuế đã đƣợc Nhà nƣớc ban hành trong từng thời kỳ. 12 Hệ thống pháp luật thuế đƣợc coi là phù hợp không chỉ nhìn một cách phiến diện vào số lƣợng các Luật thuế nhiều hay ít, vào mục tiêu đơn thuần là động viên tài chính vào ngân sách Nhà nƣớc mà phải đƣợc phân tích một cách toàn diện, chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế, với đời sống xã hội, không đối lập với quyền lợi và khả năng đóng góp của nhân dân.
Nội dung và phương pháp xác định thuế GTGT và thuế TNDN 1. Nội dung và phương pháp xác định thuế GTGT Nội dung thuế GTGT Theo C.Mác: giá trị của hàng hoá, dịch vụ là c+(v+m), trong đó c là lao động quá khứ đƣợc chuyển vào sản phẩm, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra và đó chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ. Nếu sản phẩm này lại là tài sản cố định hay nguyên, vật liệu cho chu kỳ sản xuất, kinh doanh tiếp theo thì nó lại đóng vai trò là phần c của sản phẩm mới. Cứ nhƣ vậy đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng, toàn bộ số c+(v+m) là tổng giá trị của hàng hóa, dịch vụ, đồng thời cũng là tổng các phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các giai đoạn sản xuất, kinh doanh khác nhau.
Mỗi một sản phẩm, hàng hoá nếu không đi vào tiêu dùng sẽ đi vào quá trình sản xuất, kinh doanh tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị của hàng hóa. Những giá trị đó tất nhiên sẽ bị Nhà nƣớc tính thuế, nhƣng việc tính thuế trên toàn bộ giá trị hay chỉ tính thuế đối với phần giá trị tăng thêm thì lại phụ thuộc vào từng sắc thuế. Theo Lê Xuân Trƣờng (2009) định nghĩa: Bất kỳ loại hàng hóa, dịch vụ nào thì quá trình sản xuất ra nó cũng bao gồm một số bƣớc, giá trị cuối cùng của sản phẩm là tổng các giá trị tăng thêm ở các giai đoạn đó. Thuế đánh vào tổng giá trị sản phẩm ở mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm ở từng giai đoạn gọi là thuế GTGT.
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng và đƣợc thu 13 ở khâu tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Qua đó, có thể thấy thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào hành vi tiêu dùng HHDV. Tuy nhiên về bản chất, thuế GTGT khác với các loại thuế gián thu khác, sự khác biệt này đƣợc thể hiện qua các đặc trƣng của thuế GTGT. ối tư ng chịu thế, đối tư ng nộp thuế GTGT (1).
ối tư ng chịu thuế Theo Lê Xuân Trƣờng (2009) cho rằng: Ðối tƣợng chịu thuế giá trị gia tăng là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tƣợng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hƣớng dẫn thi hành. (2) ối tư ng không chịu thuế giá trị gia tăng Theo Lê Xuân Trƣờng (2009) cho rằng: Ðối tƣợng không chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm: Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm trồng rừng), chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chƣa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thuờng cuả các cá nhân, tổ chức tự sản xuất và bán ra. Sản phẩm muối đƣợc sản xuất từ nƣớc biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i- ốt. Sản xuất phim các loại.
Hoạt động phát hành và chiếu phim. In, xuất bản và phát hành: báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng tiếng dân tộc thiểu số; tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền, cổ động; in tiền. Các công trình đầu tƣ bằng nguồn vốn ODA không hoàn lại. Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hoá, cung ứng dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng không đƣợc khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào cuả hàng hoá, dịch vụ ở khâu không chịu thuế giá trị gia tăng.
ối tư ng nộp thuế giá trị gia tăng Theo Lê Xuân Trƣờng (2009): Ðối tư ng nộp thuế giá trị gia tăng là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế là đối tƣợng nộp thuế giá trị gia tăng. Phương pháp xác định thuế GTGT 1 Căn cứ tính thuế Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng 2008 (sửa đổi, bổ sung 2018) thì căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất. Công thức tính thuế GTGT: Số thuế GTGT phát sinh = Giá tính thuế GTGT x Thuế suất thuế GTGT (2)Giá tính thuế GTGT Căn cứ theo điều 7 Luật thuế GTGT thì giá tính thuế GTGT đƣợc quy định nhƣ sau: - Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chƣa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhƣng chƣa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trƣờng là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trƣờng nhƣng chƣa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trƣờng là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trƣờng nhƣng chƣa có thuế giá trị gia tăng; - Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trƣờng (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu đƣợc xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
15 (3)Thuế suất thuế GTGT Căn cứ theo điều 7 Luật thuế GTGT thì thuế suất thuế GTGT đƣợc quy định nhƣ sau: Thuế GTGT có phạm vi tác động rất rộng, ảnh hƣởng rất lớn đến giá cả, dịch vụ. Vì vậy, thuế suất thuế GTGT thƣờng thấp. Thuế suất thuế GTGT có ba mức: 0%, 5%, 10% cụ thể đƣợc quy định.