CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại 1.Khái niệm cho vay tiêu dùng cá nhân Trong nền kinh tế hiện nay với sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề, đời sống của người dân được nâng cao do vậy nhu cầu chi tiêu của cá nhân của gia đình càng được phát triển đa dạng, phong phú. Nắm bắt nhu cầu trên ngân hàng thương mại (NHTM) đã phát triển phương thức CVTD trở nên phong phú và đa dạng hơn. Tuy nhiên, nhu cầu con người phục thuộc nhiều vào khả năng thanh toán của mình, mức chi tiêu bị hạn chế bởi thu nhập đã làm kìm hảm khả năng thoả mản của con người.
Để thoả mãn nhu cầu chi tiêu trong tức thời cá nhân có thể lựa chon cho mình các khoản vay tiêu dùng thích hợp nằm trong khả năng thanh toán, cũng như nguồn thu nhập của mình để đáp ứng nhu cầu chi tiêu kịp thời và có thể thanh toán lại cho ngân hàng trong thời gian thoả thuận. Hoạt động cho vay tiêu dùng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng (người cho vay) và các cá nhân, người tiêu dùng (người đi vay) nhằm tài trợ cho các phương án phục vụ đời sống, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ khi người tiêu dùng chưa có khả năng thanh toán trên nguyên tắc người tiêu dùng sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi tại một thời điểm xác định trong tương lai. [9] Hay nói cách khác cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thời gian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời gian cấp, lãi suất phải trả.) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá và dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộc sống cao hơn. [9] Nếu như cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức tín dụng mà các Ngân hàng thương mại cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh.
thì cho vay tiêu dùng lại là một sản 6 --- phẩm tín dụng rất hữu ích nhằm tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc để mua cổ phiếu hay trái phiếu. Như vậy, khác với các khoản cho vay sản xuất kinh doanh - các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế sử dụng vốn vay để tài trợ cho vốn lưu động, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị., các khoản cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá dịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hướng tới một cuộc sống cao hơn như mua xe, các dụng cụ dân dụng, chi phí nghỉ ngơi, du lịch. Theo các khái niệm trên, bản chất của cho vay tiêu dùng cá nhân là: - Sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng; - Sự chuyển nhượng có thời gian cụ thể; - Sự chuyển nhượng có kèm theo chi phí. Đối tượng cho vay tiêu dùng cá nhân bao gồm các nhóm sau: Cá nhân và hộ gia đình có thu nhập cao: Nhu cầu tín dụng nảy sinh nhằm tăng thêm khả năng thanh toán, hoặc là một khoản tài trợ linh hoạt trong chi tiêu, nhất là khi vốn của họ đã nằm trong khoản đầu tư dài hạn.
Cá nhân và hộ gia đình có thu nhập trung bình: Đối tượng này có nhu cầu về tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng mạnh do ý muốn vay mượn để mua hàng tiêu dùng hơn là sử dụng khoản tiền dự phòng của mình, thích chi tiêu trước, trả tiền sau. Cá nhân và hộ gia đình có thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng của đối tượng này không cao, nó xuất hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu giao dịch tạo ra sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. Vai trò của hoạt động cho vay tiêu dùng cá nhân - Đối với ngân hàng Thứ nhất, cho vay tiêu dùng cá nhân giúp tăng khả năng cạnh tranh của các ngân hàng, thu hút được đối tượng khách hàng mới, từ đó mở rộng quan hệ với khách hàng. Bằng cách nâng cao và mở rộng mạng lưới, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ cho vay tiêu dùng, số lượng khách hàng đến với ngân hàng sẽ ngày càng nhiều hơn và hình ảnh của ngân hàng sẽ càng đẹp hơn trong mắt khách hàng.
Trong ý nghĩ của công chúng, ngân hàng không chỉ là tổ chức chỉ biết quan tâm đến các công ty và doanh nghiệp mà ngân hàng còn rất quan tâm tới những nhu cầu 7 --- nhỏ bé, cần thiết của người tiêu dùng, đáp ứng nguyện vọng cải thiện đời sống của người tiêu dùng. Từ đó uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng cao hơn. Thứ hai, cho vay tiêu dùng cá nhân cũng là một công cụ marketing rất hiệu quả, nhiều người sẽ biết tới ngân hàng hơn. Từ đó ngân hàng sẽ huy động được nhiều nguồn tiền gửi của dân cư hơn.
Thứ ba, cho vay tiêu dùng tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hoá kinh doanh, từ đó nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. [9] - Đối với người tiêu dùng Nhờ cho vay tiêu dùng, người dân được hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền. Nó đặc biệt cần thiết trong những trường hợp cá nhân có các nhu cầu chi tiêu có tính cấp bách và quan trọng như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục, y tế. Từ đó trình độ dân trí và chất lượng đời sống của người dân cũng được nâng cao hơn.
Tuy vậy, nếu lạm dụng việc đi vay để tiêu dùng thì cũng rất tai hại vì nó có thể làm cho người đi vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu trong tương lai, nghiêm trọng hơn nếu người đi vay mất khả năng chi trả. [9] - Đối với nền kinh tế Thứ nhất, cho vay tiêu dùng cá nhân góp phần khơi thông luồng chuyển dịch hàng hoá. Quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá nếu như không có tiêu dùng thì tất yếu sẽ bị tắc nghẽn, hàng hoá không tiêu thụ được dẫn tới doanh nghiệp bị ứ đọng vốn và đương nhiên quá trình sản xuất không thể tiếp tục. Vai trò của ngân hàng lúc này trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Thứ hai, cho vay tiêu dùng cá nhân giúp giảm hiện tượng cho vay nặng lãi, giúp cho người dân giảm bớt gánh nặng trong việc trả tiền lãi vay mượn, góp phần nâng cao đời sống của người dân, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tóm lại, cho vay tiêu dùng cá nhân có lợi cho cả ba bên: người tiêu dùng, ngân hàng và cả nền kinh tế. Cho vay tiêu dùng cá nhân được dùng để tài trợ cho chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ trong nước có tác dụng rất tốt trong việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Song, nếu các khoản cho vay tiêu dùng cá nhân không xác đáng, thì chẳng những không kích được cầu mà nhiều khi còn làm giảm khả năng tiết kiệm trong nước.
Phân loại cho vay tiêu dùng cá nhân Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay tiêu dùng cá nhân dựa vào các căn cứ sau đây: [9] a. Căn cứ vào mục đích vay Căn cứ vào mục đích vay vốn, cho vay tiêu dùng được chia thành hai loại: - Cho vay tiêu dùng cư trú: Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí và du lịch. Căn cứ vào phương thức hoàn trả Căn cứ vào phương thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng được chia thành ba loại: - Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay. - Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho Ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn.
Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài. - Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng kỳ, khách hàng được Ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng. 9 --- Lãi phải trả mỗi kỳ có thể tính dựa trên một trong ba cách sau: Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp này số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng.
Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo phương pháp này số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ cuối mỗi kỳ có trước khi khoản nợ được thanh toán. Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân. Căn cứ vào thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vay được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và Khách hàng.