Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Khái quát về cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại “NHTM là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng, nhưng nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng” (Nguyễn Văn Tiến, 2013).
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” (Quốc Hội, 2017). Như vậy, cho vay là một mặt của hoạt động tín dụng ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay, ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ trong xã hội (quỹ cho vay) để đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Cho vay là hoạt động thuộc về bản chất quan hệ tín dụng, được đánh giá là nghiệp vụ quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại (NHTM). Đây là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao.
Bởi vậy, khi cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc, điều kiện nhất định nhằm: - Buộc người vay phải có trách nhiệm cao trong việc sử dụng vốn đi vay; - Đảm bảo an toàn và tăng khả năng sinh lời cho đồng vốn vay; - Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn , thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia. Hoạt động cho vay tiêu dùng đã xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Nhưng phải đến sau năm 2000, khi nền kinh tế nói chung và đời sống của người dân nói riêng có những bước chuyển rõ rệt, sắc nét thì loại hình tín dụng này mới thực sự phát triển. Bên cạnh đó, cho vay tiêu dùng cũng nằm trong chiến 9 lược đa dạng hoá các loại hình tín dụng, mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ cũng như phân tán rủi ro của ngân hàng.
Điều đó giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và quảng bá thương hiệu. CVTD cho phép cá nhân, hộ gia đình được sử dụng trước khả năng mua hàng hoá của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trước khi họ có khả năng chi trả. Do đó ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất, thì CVTD còn gián tiếp kích thích sản xuất cầu chi tiêu và mua sắm tiện nghi sinh hoạt gia đình nhằm nâng cao đời sống dân cư. Khách hàng vay thường là những người có thu nhập không quá cao nhưng ổn định.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2013): Cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân hàng cho khách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng. Đặc điểm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại - Đối tượng cho vay tiêu dùng là các cá nhân, nhu cầu vay vốn của những người này phụ thuộc vào tình hình thu nhập, tài chính của họ. - Qui mô và số lượng các khoản vay tiêu dùng thường có qui mô tương đối nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn: Các khách hàng cá nhân tìm đến ngân hàng với mục đích vay vốn thường có nhu cầu vốn không cao vì nhu cầu của KHCN vay thường sử dụng cho mục đích tiêu dùng. Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên ngân hàng cũng thường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay căn cứ vào mức thu nhập từ tiền lương để xác định khả năng trả nợ của khách hàng.
Song nếu xét về quy mô thì nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng là khá lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống. Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lượng các khoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều. - Lãi suất cho vay tiêu dùng Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác.
Nguyên nhân là do quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ lại khó quản 10 lý hơn vì vậy chi phí cho vay tiêu dùng của ngân hàng cao. Để bù đắp chi phí này, tất nhiên, lãi suất cho vay sẽ cao. Bên cạnh đó, không như hầu hết các khoản cho vay kinh doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng thường được cố định ở một mức nhất định. Ngay khi quan hệ tín dụng được xác lập thì mức lãi suất đã được ấn định và duy trì trong suốt thời hạn vay.
Mặt khác, khi vay tiền, KHCN thường không quan tâm nhiều tới lãi suất mà họ chỉ quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng kỳ, thời gian được giải ngân và khả năng trả nợ của mình bởi vì họ vay tiền chủ yếu cho mục đích tiêu dùng nên thường coi vay mượn là công cụ để đạt được một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tình trạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận. - Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao Cho vay tiêu dùng có rủi ro cao hơn do nguồn trả nợ không có tính ràng buộc. Hình thức cho vay tiêu dùng chứa đựng độ rủi ro cao hơn so với việc tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của người vay, khả năng trả nợ của khách hàng sẽ bị ảnh hưởng khi nền kinh tế gặp khó khăn, hoặc xảy ra những biến động tiêu cực chung như thiên tai, mất mùa, thất nghiệp.
Khả năng trả nợ vay tiêu dùng còn phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của KHCN, đặc biệt khi người vay chết thì NHTM sẽ rất khó để thu hồi được khoản nợ. - Chi phí cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất trong danh mục cho vay của NHTM. Do số lượng món vay nhiều, KHCN đông nhưng quy mô nhỏ, NHTM phải huy động nhiều nhân lực, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, quyết định cho vay, giải ngân, kiểm soát và thu nợ. Công tác quản lý các khoản cho vay tiêu dùng với số lượng lớn cũng phát sinh nhiều chi phí.
- Cho vay tiêu dùng thường nhạy cảm với tình hình kinh tế Nguồn trả nợ chính của khoản cho vay tiêu dùng thường là từ lương của người vay. Do vậy vào thời kỳ kinh tế tăng trưởng, người tiêu dùng lạc quan về thu nhập của họ và họ sẽ mạnh dạn vay vốn ngân hàng để tiêu dùng. Ngược lại vào thời kỳ kinh tế suy thoái, khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, người tiêu dùng không thể chắc chắn về nguồn thu nhập của mình, do đó họ sẽ có xu hướng cắt giảm chi tiêu và hạn chế vay tiêu dùng. Vai trò của cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại a) Đối với ngân hàng Hoạt động chủ yếu của các NHTM là huy động vốn và sử dụng vốn đó trong kinh doanh để thu lợi nhuận.
Ngân hàng nhận tiền gửi từ nhiều nguồn khác nhau (cá nhân, tổ chức) theo nhiều hình thức khác nhau. Việc sử dụng cũng theo nhiều hình thức khác nhau: Tín dụng, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán, mua trái phiếu. Hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động chiếm thị phần cao nhất, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận nhất, đồng thời lĩnh vực tài trợ của NHTM cũng có nhiều thay đổi nhằm giúp cho các ngân hàng có thể thích ứng được trước những biến động của thực tế. Trước đây các NHTM chưa quan tầm đến thị trường cho vay tiêu dùng, bởi đây là thị trường mà các khoản tài trợ có quy mô nhỏ, chi phí tài trợ lớn, rủi ro cao.
Tuy nhiên, khi cuộc cạnh tranh để giành thị phần thị trường trở nên khốc liệt, các NHTM không chỉ cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã khiến thị phần trên một số thị trường của các ngân hàng bị thu hẹp, trong khi thị trường cho vay tiêu dùng đang có xu thế lên cao. Do vậy, các ngân hàng phải hướng mục tiêu của mình vào lĩnh vực này, cho vay tiêu dùng đã dần trở thành một loại sản phẩm phổ biến trong các NHTM, một loại sản phẩm mang lại doanh thu tương đối cao trong tổng doanh thu của các NHTM. Mặc dù các khoản tài trợ trong hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ, nhưng với số lượng các khoản vay này là rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng bao gồm tất cả các thành phần trong xã hội), vì vậy tổng quy mô tài trợ là rất lớn. Bên cạnh đó lãi suất các hình thức này cao đã mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng.
Đặc biệt, đối với những ngân hàng có quy mô nhỏ, uy tín chưa cao…, thì khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, uy tín cao trong việc giành các khách hàng lớn (thường là các tổ chức mà nhu cầu vay vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh). Hoặc nhờ những mối quan hệ tốt, ngân hàng có thể giành được khách hàng nhưng lại không có thể đáp ứng được quy mô khoản vay của họ thì thị trường cho vay tiêu dùng là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng này.