Chương 1: Cơ sở lý luận về cho vay tiêu dùng và hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm cơ bàn về cho vay tiêu dùng của NHTM 1. Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng của NHTM a. Khái niệm Hiện nay, vẫn chưa có một định nghĩa chính thống nào về hình thức cho vay tiêu dùng, tuy nhiên lại có khá nhiều khái niệm đề cập đến cho vay tiêu dùng và cơ bản giữa các khái niệm này đều có một sự thống nhất. Như các NHTM đều hiểu rằng “Cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền hay hiện vật) với những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận nhằm giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi họ có khả năng trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một mức sống cao hơn” Tóm lại, cho vay tiêu dùng được xem là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để chi dùng cho các mục đích không kinh doanh nên có thể kết luận như sau: Cho vay tiêu dùng được hiểu là việc ngân hàng chuyển giao cho khách hàng một lượng giá trị bằng tiền trên nguyên tắc khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian xác định thỏa thuận để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời sống.
Định nghĩa về cho vay tiêu dùng có thể là khác nhau nhưng nội dung là giống nhau, cùng là đề cập đến mục đích của loại cho vay này. Trong những năm gần đây, cho vay tiêu dùng tăng lên do mang nhiều lợi nhuận đến cho ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng tích cực phát triển hình thức cho vay này, điều này được lý giải thông qua các đặc điểm của cho vay tiêu dùng. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng Kinh tế ngày càng phát triển, lýợng cho vay của các ngân hàng cũng tãng nhanh và loại hình cho vay cũng trở nên ða dạng.
Sống trong một xã hội tiến bộ và nền khoa học công nghệ - kĩ thuật tiên tiến nhý hiện nay cùng với sự ra ðời và phát triển 7 của nhiều sản phẩm mẫu mã ðẹp và chất lýợng cao, tự khắc nhu cầu của con ngýời sẽ càng gia tãng hõn. Tất yếu quá trình trao ðổi mua bán ðòi hỏi diễn ra càng mạnh mẽ. Song, ðể tham gia ðýợc vào quá trình mua bán hàng hóa thì cần phải có một lýợng giá trị (tiền tệ) ðủ lớn và ðúng thời ðiểm. Chính vì týõng quan ðối ứng dùng tiền ðể mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ ðã gây trở ngại cho những ðối týợng khách hàng có nhu cầu tiêu dùng nhýng lýợng tài chính của họ không týõng xứng.
Do ðó, cho vay tiêu dùng ðã giúp ðối týợng khách hàng này có thể thỏa mãn ðýợc mục ðích tiêu dùng của bản thân. Cho vay của ngân hàng là lĩnh vực khá phức tạp và thường xuyên thay đổi theo những biến chuyển của môi trường kinh tế. Vì lẽ đó sản phẩm cho vay tiêu dùng cũng được các ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng và phong phú nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng cá nhân, giúp khách hàng thỏa mãn được kỳ vọng của mình. Cho vay tiêu dùng là một sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm cho vay của ngân hàng, chính vì vậy bản thân sản phẩm này đã mang đầy đủ các đặc điểm của hoạt động cho vay.
Bên cạnh những đặc điểm chung này thì CVTD còn có những đặc điểm mang đậm nét riêng sau: b1. Về mục đích vay Cho vay tiêu dùng để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình theo các mục đích sau: mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồ dùng, hay các nhu cầu du lịch, học hành hoặc giải trí. Về nguồn trả nợ Khách hàng sử dụng tiền của ngân hàng để tiêu dùng vào mục đích của hộ gia đình hoặc cá nhân, nên khách hàng phải trích nguồn thu nhập hàng tháng từ lương, thu nhập từ hoạt động kinh doanh của mình mà hoạt động kinh doanh đó không phải là từ kết quả sử dụng những khoản vay. Về lãi suất Cho vay tiêu dùng được xem là tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng khá cao.
Bởi vì, qui mô các khoản cho vay nhỏ, nhưng số lượng các khoản cho vay lớn nên tổng chi phí cho vay lớn. Thêm vào đó, khách hàng đã sử dụng vốn của ngân hàng để tiêu dùng cho mục đích cá nhân, nên nguồn trả nợ từ thu nhập của khách hàng, song nguồn thu nhập này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro xuất phát từ bản 8 thân khách hàng vay. Vì vậy, ngân hàng thường áp mức lãi suất cao khi cho vay tiêu dùng nhằm bù đắp chi phí hoạt động và rủi ro tiềm ẩn lớn. Về quy mô Do mục đích vay tiêu dùng của khách hàng là khác nhau nên quy mô các khoản vay cũng khác nhau.
Tuy nhiên, có thể nhận thấy qui mô các khoản cho vay tiêu dùng thường nhỏ nhưng số lượng các khoản vay rất lớn. Vì nhu cầu của dân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích luỹ trước đối với các loại tài sản có giá trị lớn. Thêm vào đó, nhu cầu vay tiêu dùng là khá phổ biến do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đa dạng. Về rủi ro Trong cuộc sống, chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do những rủi ro khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt, hoạt động cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, nhiều doanh nghiệp phá sản, thu nhập của người lao động giảm sút.
Khi đó, người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng với những lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, dẫn đến người dân chưa dám mạnh tay vay mượn ngân hàng để tiêu dùng. Do vây, các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịu tác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng. Một số rủi ro chủ quan như tình trạng sức khoẻ, những rủi ro làm giảm nguồn thu nhập ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình… Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho NH, hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ và chính xác hoàn toàn. Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác động trực tiếp vào việc trả nợ cho ngân hàng, hay số lượng các khoản vay tiêu dùng là rất lớn trong khi đó số lượng cán bộ tín dụng ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi ro cho ngân hàng.
Về chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng Việc thu thập thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách 9 hàng thường không đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm định và xét duyệt cho vay. Vì số lượng món cho vay tiêu dùng nhiều, nhưng qui mô món cho vay lại nhỏ, tuy vậy ngân hàng vẫn tốn một số phí nhất định khi xét duyệt mỗi bộ hồ sơ vay nên tính tổng chi phí để quản lý hồ sơ khách hàng là tương đối lớn. Chính vì thế, cho vay tiêu dùng trở thành khoản mục có chi phí lớn nhất trong các khoản mục tín dụng ngân hàng. Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của cho vay tiêu dùng lớn nên ngân hàng thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản cho vay tiêu dùng.
Bên cạnh đó, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng là khá nhiều, khiến cho tổng quy mô cho vay tiêu dùng là rất lớn, cùng với tiền lãi thu được từ mỗi khoản vay làm cho tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng là đáng kể. Đối tượng cho vay tiêu dùng Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, đối tượng tín dụng trước đây của các ngân hàng đa phần xoay quanh các khách hàng doanh nghiệp lớn, các tổ chức kinh tế có những khoản vay lớn, để giúp các ngân hàng tìm kiếm nguồn lợi nhuận lớn. Do đó, các ngân hàng ít quan tâm đến đối tượng khách hàng cá nhân. Tuy nhiên thời gian gần đây, khách hàng cá nhân đã trở thành đối tượng khách hàng tiềm năng trong xu hướng phát triển ngân hàng hiện đại đồng thời với sự vỡ nợ hàng loạt của các tổng công ty nhà nước đã gây ảnh hưởng không ít đến tâm lý thận trọng và giới hạn cho vay đối với các doanh nghiệp nên các ngân hàng đã có những điều chỉnh trong hoạt động cho vay của mình.
Cụ thể các ngân hàng đã chú ý nhiều hơn đến đối tượng khách hàng cá nhân và bắt đầu có sự đa dạng hóa danh mục cho vay sang hướng khách hàng cá nhân. Vì vậy, khách hàng cá nhân là nhóm khách hàng có một vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng bất kỳ và vị thế của khách hàng cá nhân càng được khẳng định hơn nữa cả trên lý thuyết cũng như trên thực tiễn. Như vậy, đối tượng cho vay tiêu dùng đó là các nhu cầu của cá nhân tùy thuộc vào tình hình tài chính và nguồn thu nhập của họ mà có những mức độ khác nhau, cụ thể như: 10 - Nhóm đối tượng có mức thu nhập thấp: Nhu cầu tín dụng tiêu dùng thường không cao, do bị giới hạn bởi thu nhập, nhưng hơn hết là họ muốn được cải thiện cuộc sống hiện tại nên. Vì vậy, họ vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu gia đình, tạo sự cân đối giữa thu nhập và chi tiêu.