Đặt vấn đề Trong sản xuất nông nghiệp nước ta, con trâu chiếm một vị trí hết sức quan trọng "con trâu là đầu cơ nghiệp". Trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, con trâu không chỉ cung cấp sức kéo trên đồng ruộng, sử dụng để vận chuyển hàng hoá vùng nông thôn, miền núi, cung cấp phân bón cho sản xuất cây trồng; nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp mà còn cung cấp cấp thịt có chất lượng cao. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có số dân sống dựa và sản xuất nông nghiệp chiếm 78%. Cũng như ở nhiều nơi trong cả nước, chăn nuôi trâu là một nghề sản xuất truyền thống lâu đời, con trâu đã trở thành con vật thân thiết, là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó không những mang lại giá trị kinh tế cao, vừa cung cấp sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Chiêm Hóa nói riêng số lượng trâu nuôi đang bị giảm về số lượng và năng suất sinh sản do việc chọn lọc, quản lý đàn trâu chưa được chú trọng. Việc xây dựng đàn trâu sinh sản hiện nay là rất cần thiết. Đàn sinh sản sẽ là đàn được chọn lọc tốt, quản lý bài bản để tránh đồng huyết. Đàn sinh sản sẽ tạo nên các đàn trâu nuôi thương phẩm.
Việc xây dựng được đàn sinh sản có chất lượng và được quản lý tốt sẽ giải quyết được tình trạng trâu giống nuôi thương phẩm có chất lượng kém hiện nay trong nông hộ do mức độ đồng huyết cao. Những kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thu được sẽ là nền m 2 tảng cơ bản để xây dựng nên các quy trình chọn giống cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y cho đàn giống. Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng, bên cạnh công tác giống và đảm bảo nguồn thức ăn dinh dưỡng thì công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh cho đàn trâu là nội dung có vai trò đặc biệt quan trọng, giúp cho trâu có sức đề kháng, hạn chế được sự lây nhiễm và mắc bệnh, giảm những rủi ro đảm bảo hiệu quả kinh tế của người chăn nuôi. Nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về công tác vệ sinh thú y, phòng và trị bệnh đảm bảo an toàn dịch bệnh cho đàn trâu nuôi tại địa phương, trong phạm vi nội dung chuyên đề: "Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản tại huyện Chiêm Hóa".
Mục tiêu của chuyên đề Đánh giá được thực tế tình hình phòng bệnh và tổ chức triển khai công tác phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang. Ý nghĩa của chuyên đề 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của chuyên đề bổ sung các cơ sở, số liệu về áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang thuộc nội dung đề tài " Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu và kết quả thực hiện biện pháp phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản tại huyện Chiêm Hóa". Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của chuyên đề góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về việc áp dụng biện pháp thú y phòng bệnh cho đàn trâu sinh sản nuôi tại huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang và các vùng phụ cận.
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU m 3 2. Một số đặc điểm chung của địa bàn triển khai chuyên đề nghiên cứu 2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội 2. Vị trí địa lý Huyện Chiêm Hoá nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21o 58’21” đến 22o 30’56” vĩ độ Bắc và từ 104o 58’21” đến 105o 31’33” kinh độ Đông, có vị trí địa lý như sau: Phía Đông, Đông-Bắc giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) và huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang); phía Tây - Bắc giáp huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang); phía Tây- Nam giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang); phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Bắc giáp huyện Lâm Bình.
Diện tích tự nhiên toàn huyện là 146.061,82 ha, chiếm 24,88% diện tích tự nhiên của tỉnh Tuyên Quang. Huyện Chiêm Hoá có 25 xã và 1 thị trấn, phân bố trên địa bàn khá rộng, xã xa nhất cách trung tâm huyện trên 45 km. Địa hình Địa hình của Chiêm Hoá bị chia cắt khá lớn bởi hệ thống sông ngòi và nhiều dãy núi lớn. Nét chung của địa hình là sự xen kẽ không đều giữa các núi đá vôi và núi đất, giữa các dải núi cao và vùng đồi đất có độ cao trung bình hoặc thấp.
Giữa các vùng đồi núi đó là các thung lũng có diện tích không lớn song đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cư, phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Chiêm Hoá có nhiều dãy núi cao. Phía Đông có đỉnh cao nhất là núi Khau Bươn (thuộc địa phận xã Kiên Đài, có độ cao 957m), phía Tây có đỉnh cao nhất là núi Cham Chu có độ cao 1. Khí hậu thủy văn Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2 m 4 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này thường hay xẩy ra lũ lụt; mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc, sương mù và sương muối.
Điều kiện giao thông, thủy lợi Đường giao thông huyện Chiêm Hóa chủ yếu là đường bộ có nhiều đèo, dốc khó khăn cho việc vận chuyển hàng hóa. Hệ thống đường bộ đã đến tận các trung tâm xã. Các tuyến đường liên thôn chủ yếu là đường dân sinh đi lại gặp nhiều khó khăn nhất là mùa mưa. Sông, suối của Chiêm Hoá có độ dốc cao, hướng chảy khá tập trung, các con suối, ngòi đều đổ dồn về sông Gâm và sông Lô.
Con sông lớn nhất là sông Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, huyện Na Hang, chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ. Cùng với các con suối lớn, nhiều khe nhỏ tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân và là con đường giao thông, vận tải khá quan trọng. Tình hình sản xuất nông nghiệp 2. Tình hình sản xuất ngành trồng trọt Trồng trọt là ngành sản xuất chủ lực của huyện, tuy nhiên do trình độ dân trí còn có những hạn chế, tập quán canh tác manh mún nhỏ lẻ mang tính truyền thống, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên việc sản xuất ngành trồng trọt của huyện còn gặp nhiều khó khăn.
Diện tích đất nông nghiệp lớn với cây lương thực lúa nước là chủ yếu, ngoài ra còn các loại cây trồng khác như: ngô, đậu tương, lạc. Ngoài cây nông nghiệp huyện Chiêm Hóa còn đẩy mạnh mở rộng diện tích cây công nghiệp là cây mía đường cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Tuyên Quang. m 5 Ngoài ra huyện còn hình thành được một số vùng trồng các loại cây ăn quả như: cây cam, bưởi … 2. Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi Ngành chăn nuôi của huyện Chiêm Hóa chủ yếu phát triển theo quy mô nhỏ ở các hộ gia đình, vật nuôi chính là trâu, bò, lợn và gia cầm.
Chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm đang được các cơ quan chính quyền và nhân dân chú trọng đầu tư phát triển. Do có diện tích rừng nhiều nên huyện Chiêm Hóa rất phù hợp với việc phát triển chăn nuôi trâu bò với mục đích cung cấp thực phẩm cho con người, cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt. - Tình hình chăn nuôi trâu, bò: Đàn đại gia súc của huyện tương đối lớn, chủ yếu chăn nuôi trâu do nguồn gốc bản địa thích nghi phù hợp với điều kiện tự nhiên tại vùng địa phương. - Tình hình chăn nuôi lợn: Chăn nuôi lợn chủ yếu nhỏ lẻ quy mô nông hộ, tận dụng các loại thức ăn sẵn có, phụ phẩm của nông nghiệp.
Hiện nay trên địa bàn huyện đã xuất hiện những trang trại chăn nuôi lợn được đầu tư chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn trên 100 con. - Tình hình chăn nuôi gia cầm, thủy cầm: Chủ yếu phát triển ở quy mô hộ gia đình. Các giống gia cầm, thủy cầm được nuôi chủ yếu là các giống địa phương. Ngoài ra, ở huyện Chiêm Hóa cũng có một số mô hình chăn nuôi khác như ong, thỏ, chim bồ câu,… song ở quy mô nhỏ và tự phát.
Công tác thú y Chiêm Hóa là huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nắng mưa thất thường, thời tiết biến đổi phức tạp nên dễ xảy ra dịch bệnh làm ảnh hưởng đến đàn gia súc, gia cầm trong huyện. Đội ngũ cán bộ thú y của huyện tương đối đông đảo và nhiệt tình trong công việc, mỗi thôn/xóm đều có 1 cán bộ thú y thôn bản. Hàng năm, huyện tổ chức tiêm phòng bắt buộc theo quy định cho đàn gia súc gia cầm, trình độ nhận m 6 thức của người dân đã từng bước được nâng cao nhưng kết quả công tác phòng chống dịch bệnh vẫn còn hạn chế. Hàng năm vẫn lẻ tẻ sẩy ra một số ổ dịchnhỏ với 1 số bệnh như: lở mồm long móng, tụ huyết trùng,… đã gây ra những thiệt hại nhất định cho người chăn nuôi.
Công tác kiểm dịch, vệ sinh gia súc còn hạn chế: hiện tượng gia súc ốm chết mổ thịt đem bán ra thị trường vẫn còn xẩy ra, vệ sinh chuồng trại chưa được thực hiện đầy đủ, hàng năm dịch bệnh vẫn còn xảy ra trên địa bàn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi của địa phương. Cơ sở khoa học về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 2. Phòng bệnh Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bệnh xuất hiện ở vật nuôi thường do nhiều nguyên nhân, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Với phương châm ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh"‚ nên khâu phòng bệnh luôn được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh dịch xảy ra.
Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra. Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của con vật. Các biện pháp được xoay quanh các yếu tố chủ yếu là môi trường, mầm bệnh và vật chủ. Vệ sinh môi trường, chuồng trại Hầu hết các vi khuẩn gây bệnh tồn tại trong môi trường.