Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP “Phá sản” là một hiện tượng không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường. Hiện tượng phá sản từ khi manh nha xuất hiện đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau. Bởi lẽ ở mỗi quốc gia hay mỗi một thời kỳ khác nhau người ta lại tìm ra được những khái niệm phù hợp với quan niệm “phá sản” của nước sở tại cũng như thời kỳ đó. Dưới góc độ thuật ngữ, nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được cho là đến từ hai chữ “Banca Rotta” của La Mã, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” đi cùng với câu chuyện kể rằng: “Thời đó, các thương gia của một thành phố thường họp nhau lại và người nào MKNTT nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia các đại hội thương gia và chiếc ghê ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường”.
Hiện nay, thuật ngữ phá sản không còn xa lạ. Ở một số nước trên thế giới, vẵn sử dụng “Banca Rotta” như một thuật ngữ phá sản, có thể kể đến như trong tiếng Anh là “Bankruptcy” hay trong tiếng Pháp là “Baqueroute” đều có nghĩa là “làm phá sản”. Dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học đã định nghĩa “phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) MKNTT nợ đến hạn hay theo các nói thông thường phá sản là tình trạng một chủ thể bị vỡ nợ không còn bất kì một tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (thường là Tòa án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của con nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định” (Viện khoa học pháp lý, 2006). Vậy định nghĩa “phá sản” nhìn nhận dưới góc độ này được xác định thông qua hai vấn đề.
Một là, chủ thể không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Hai là, bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản. Theo pháp luật Việt Nam, cho đến tận năm 1990 khi phá sản được thừa nhận là một hậu quả tất yêu của nền kinh tế thị trường thì khái niệm “phá sản” mới được quy định trong hai văn bản pháp lý quan trọng của Việt Nam là: Luật DN Tư nhân và Luật Công ty (đều được ban hành vào ngày 21/12/1990). Khái niệm “phá sản” tại thời điểm này chưa thực sự phù hợp và thể hiện được đầy đủ bản chất của “phá sản”.
Bởi lẽ, theo Luật DN tư nhân và Luât công ty quy định thì việc xác định tình trạng phá 9 sản phụ thuộc vào tổng số giá trị còn lại của công ty. Tuy nhiên trong trường hợp công ty được xóa nợ, hoãn nợ, hay mua lại nợ,… thì mặc dù tổng số tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn thì cũng không bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Năm 1993, cách hiểu về “phá sản” được hoàn thiện thêm một bước thông qua việc quy định cụ thể trong điều 2 LPS DN năm 1993: “DN đang lâm vào tình trạng phá sản là DN gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn MKNTT nợ đến hạn”. Như vậy, theo LPS DN năm 1993 DN chỉ có thể được coi là lâm vào tình trạng phá sản sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng MKNTT nợ đến hạn.
Tại điều 3 LPS năm 2004 đã quy định: “DN, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Như vậy, từ quy định này có thể thấy một DN được coi là “lâm vào tình trạng phá sản” ở thời điểm này cần có đủ hai yếu tố: “(i) Không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, (ii) DN bị chủ nợ yêu cầu thanh toán” Khác với quy định về “phá sản” được nếu ra bằng cách đưa ra khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản” tại quy định của các văn bản luật của thời kỳ trước thì LPS năm 2014 đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về “phá sản” là gì? Tại khoản 2 điều 4 LPS năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của DN, hợp tác xã MKNTT và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo đó, tình trạng “MKNTT” của DN được xác định theo khoản 1 điều 4 “DN, hợp tác xã MKNTT là DN, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. LPS năm 2014 đã phần nào hoàn thiện thông qua việc đưa ra được khái niệm “phá sản” và DN “MKNTT” Từ những phân tích nếu trên, ta có thể rút ra định nghĩa về “phá sản” như sau: - Phá sản là tình trạng DN bị MKNTT và bị Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản.
Hậu quả pháp lý của việc này là dẫn tới việc DN bị chấm dứt hoạt động kinh doanh. - Phá sản là thủ tục pháp lý mà DN giải quyết tình trạng MKNTT của mình. LPS và các luật liên quan quy định về thủ tục này. Hậu quả pháp lý của thủ tục có thể 10 dẫn đến hai trường hợp.
Một là, DN có thể được phục hồi sản xuất, kinh doanh. Hai là, DN sẽ bị chấm dứt hoạt động, tài sản và các khoản nợ sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật. Một số vấn đề chung về Luật phá sản doanh nghiệp 1. Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp a.
Định nghĩa Theo Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam (2017), tập I – Đại học Luật Hà Nội có đưa ra định nghĩa về PLPS như sau: “PLPS có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN, hợp tác xã”. “PLPS là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến điều kiện mở thủ tục phá sản; điều kiện tuyên bố phá sản DN, hợp tác xã; quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu mở thủ tục phá sản; thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Ngoài ra, PLPS còn quy định pháp lý giữa các chủ thể liên quan và các vấn đề phát sinh khác. Đặc điểm Một trong những điểm nổi bật của PLPS trong hệ thống pháp luật Việt Nam đó là vừa mang tư cách pháp luật nội dung lại vừa mang tư cách pháp luật hình thức.
Với tư cách pháp luật nội dung, nó điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được PLPS điều chỉnh. Ngược lại, với tư cách là pháp luật hình thức, PLPS điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ nợ, con nợ và những người có liên quan. Cụ thể theo tác giả Nguyễn Viết Tý, Nguyễn Thị Dung (năm 2017): “(i) Quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ Bản chất của mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là quan hệ tài sản. Mối quan hệ này được hình thành trong hoạt động kinh doanh của DN, nghĩa là được hình thành từ trước khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Tuy nhiên mối quan hệ này chỉ được điều chỉnh khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản. Chủ nợ và con nợ là chủ thể tham gia các quan hệ tài sản này. Chủ nợ có thể là cá nhân, tổ chức có khoản nợ chưa được thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn. Theo khoản 4,5,6 Điều 4 LPS 2014 thì chủ nợ được chia ra làm ba 11 loại: chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần.
Con nợ là DN MKNTT khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn. Khách thể của mối quan hệ này là tài sản của DN MKNTT. Nội dung của quan hệ tài sản giữa con nợ và chủ nợ là quyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể có liên quan. (ii) Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được hình thành trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN.
Chủ thể của mối quan hệ này bao gồm: Một bên là các đương sự gồm chủ nợ, con nợ và những người có liên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần,… (trong trường hợp họ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản); một bên là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Toàn án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, DN quản lí, thanh lí tài sản, cơ quan thi hành án dân sự Khách thể của mối quan hệ này là quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN. Nội dung của quan hệ tố tụng giữa đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là những quyền và nghĩa vụ tố tụng cuẩ các đương sự trước Nhà nước hoặc là các hành vị tố tụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phân loại Ta có thể chia phá sản thành những loại khác nhau dựa trên những tiêu chí cơ bản khác nhau. Cụ thể như sau: Dựa vào tiêu chí nguyên nhân gây ra phá sản, ta có thể tách phá sản thành “phá sản trung thực” và “phá sản gian trá”.
“Phá sản trung thực” là hậu quả của việc DN kinh doanh làm ăn yếu kém, lỗ vốn dẫn đến tình trạng “MKNTT”. Nguyên nhân việc “MKNTT” của DN có thể đến từ nguyên nhân khách quan như tác động của thị trường, ảnh hưởng của dịch bệnh,… đồng thời cũng có thể đến từ những nguyên nhân chủ quan, tuy nhiên những nguyên nhân chủ quan này sẽ không phải là sự chủ ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác mà nó có thể đến từ những yếu tố như năng lực lãnh đạo của chủ DN yếu kém; kinh nghiệm thích nghi với thị trường còn non trẻ,… “Phá sản gian trá” được hiểu là hậu quả cũng những hành vi gian lận, có chủ ý từ trước nhằm trục lợi cá nhân bất hợp pháp. Chẳng hạn như hành vi làm giả báo cáo tài 12 chính dẫn đến sai lệch trong việc quản lý tài sản của DN, từ đó tạo ra lý do phá sản không trung thực. Dựa vào tiêu chí phát sinh quan hệ pháp lý, ta có thể phân thành “phá sản tự nguyện” và “phá sản bắt buộc”.