THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Tài liệu nghiên cứu Thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật học.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019-2023

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

0.5. Phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện khóa luận

0.6. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

1.1. Một số vấn đề chung về Luật phá sản doanh nghiệp

1.1.1. Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp

1.1.2. Nội dung của Luật phá sản doanh nghiệp

1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của pháp luật phá sản doanh nghiệp

1.2. Một số vấn đề lý luận chung về thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp

1.2.1. Định nghĩa thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp

1.2.2. Đặc điểm thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp

1.2.3. Chủ thể thực thi

1.2.4. Biện pháp thực thi

1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp

1.3. Kinh nghiệm thực thi pháp luật phá sản của các quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1. Pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở Nhật Bản

1.3.2. Pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở Trung Quốc

1.3.3. Pháp luật về phá sản doanh nghiệp ở Pháp

1.3.4. Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

2.1. Một số đặc điểm về kinh tế xã hội và đánh giá tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.1.1. Một số đặc điểm về kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội

2.1.2. Đánh giá tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.2. Thực tiễn áp dụng luật phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

2.2.1. Đối tượng áp dụng

2.2.2. Lý do phá sản của doanh nghiệp

2.2.3. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu phá sản

2.2.4. Thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản

2.2.5. Thực trạng thi hành Luật phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2019 đến năm 2022

2.2.6. Những hạn chế và nguyên nhân trong việc áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

2.2.6.1. Những hạn chế còn tồn tại
2.2.6.2. Nguyên nhân tồn tại hạn chế

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ LUẬT PHÁ SẢN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

3.1. Phương hướng nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả Luật về phá sản doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội

3.2. Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả Luật phá sản đối với doanh nghiệp

3.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phá sản doanh nghiệp

3.4. Một số giải pháp nhằm thực thi Luật phá sản một cách có hiệu quả trên địa bàn Hà Nội

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I.Tổng Quan Về Phá Sản Doanh Nghiệp Hà Nội Định Nghĩa

Trong nền kinh tế thị trường, phá sản là một hiện tượng tất yếu, là sản phẩm của cạnh tranh. Các doanh nghiệp (DN) luôn hướng đến lợi nhuận, thúc đẩy họ tham gia cạnh tranh. Một số DN nắm bắt cơ hội, trở thành DN dẫn đầu, trong khi những DN khác không đáp ứng được yêu cầu thị trường, kinh doanh trì trệ và mất khả năng thanh toán các khoản nợ, dẫn đến tình trạng phá sản. Nhà nước xây dựng và thi hành pháp luật phá sản (PLPS) để hướng đến một môi trường kinh tế trong sạch, vững mạnh, loại bỏ các DN làm ăn thua lỗ, bảo đảm quyền lợi của chủ nợ và người lao động. Phá sản cũng là một biện pháp hữu hiệu để tái cơ cấu lại nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, đi kèm với nó là những hậu quả nhất định nên pháp luật về phá sản là một phần không thể thiếu để ổn định nền kinh tế. Từ năm 1990 đến nay, PLPS đã trải qua một quá trình dài hình thành, phát triển và dần hoàn thiện. Từ Luật DN năm 1990 đến Luật Phá Sản DN năm 1993, 2004 và 2014. Trong suốt quá trình phát triển, luật phá sản không ngừng đổi mới phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản.

1.1. Khái niệm phá sản doanh nghiệp dưới góc độ pháp lý

Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng thanh toán (MKNTT) nợ đến hạn. Hiểu một cách thông thường, phá sản là tình trạng một chủ thể bị vỡ nợ, không còn tài sản để trả nợ và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản, phân chia tài sản cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định (Viện khoa học pháp lý, 2006). Định nghĩa này xác định thông qua hai vấn đề: Chủ thể không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản.

1.2. Quá trình hình thành khái niệm phá sản trong luật Việt Nam

Đến tận năm 1990, khi phá sản được thừa nhận là một hậu quả tất yếu của kinh tế thị trường, khái niệm “phá sản” mới được quy định trong Luật DN Tư nhân và Luật Công ty (1990). Khái niệm này chưa thực sự phù hợp và thể hiện được đầy đủ bản chất của “phá sản”. Năm 1993, khái niệm “phá sản” được hoàn thiện hơn trong điều 2 LPS DN 1993: “DN đang lâm vào tình trạng phá sản là DN gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn MKNTT nợ đến hạn”. Luật Phá sản 2014 đưa ra khái niệm: “Phá sản là tình trạng của DN, hợp tác xã MKNTT và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. DN được coi là MKNTT nếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

II. Khám Phá Nội Dung Của Luật Phá Sản Doanh Nghiệp Hiện Hành

Theo Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam (2017), PLPS có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra, PLPS còn quy định pháp lý giữa các chủ thể liên quan và các vấn đề phát sinh khác.

2.1. Đặc điểm của PLPS trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Một trong những điểm nổi bật của PLPS trong hệ thống pháp luật Việt Nam đó là vừa mang tư cách pháp luật nội dung lại vừa mang tư cách pháp luật hình thức. Với tư cách pháp luật nội dung, nó điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được PLPS điều chỉnh. Ngược lại, với tư cách là pháp luật hình thức, PLPS điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ nợ, con nợ và những người có liên quan.

2.2. Các yếu tố chính trong nội dung của Luật Phá Sản

PLPS là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến điều kiện mở thủ tục phá sản; điều kiện tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu mở thủ tục phá sản; thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

III. Ảnh Hưởng của Thực Thi Pháp Luật Phá Sản Tại Hà Nội

Thực thi pháp luật là một quá trình đưa pháp luật vào cuộc sống, biến các quy định pháp luật thành hành vi thực tế của các chủ thể. Thực thi pháp luật phá sản không chỉ là việc áp dụng các quy định pháp luật, mà còn là việc giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh từ tình trạng phá sản.

3.1. Định nghĩa về thực thi pháp luật phá sản doanh nghiệp

Thực thi pháp luật phá sản là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội và công dân thực hiện các hành vi theo quy định của Luật Phá sản, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình giải quyết tình trạng phá sản.

3.2. Vai trò của Tòa Án trong việc thực thi pháp luật

Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi pháp luật, đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản. Tòa án có thẩm quyền ra quyết định mở thủ tục phá sản, chỉ định quản tài viên, giám sát quá trình thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

IV. Vướng Mắc Trong Thực Thi Phá Sản Giải Pháp Nào Cho Hà Nội

Quá trình thực thi pháp luật phá sản còn gặp nhiều khó khăn, từ hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện đến năng lực của các chủ thể thực thi. Việc giải quyết các vướng mắc này là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

4.1. Khó khăn trong việc xác định tình trạng mất khả năng thanh toán

Việc xác định chính xác tình trạng mất khả năng thanh toán là một thách thức lớn. Các quy định pháp luật hiện hành còn chưa rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất. Doanh nghiệp có thể cố tình che giấu tình hình tài chính, gây khó khăn cho việc đánh giá.

4.2. Hạn chế về năng lực của Quản tài viên

Đội ngũ Quản tài viên còn thiếu về số lượng và hạn chế về kinh nghiệm, đặc biệt trong các vụ việc phức tạp. Việc quản lý, thanh lý tài sản còn nhiều bất cập, dễ dẫn đến thất thoát, gây thiệt hại cho các chủ nợ.

V. Cách Nâng Cao Hiệu Quả Phá Sản Doanh Nghiệp Tại Hà Nội

Để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật phá sản, cần có các giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến nâng cao năng lực của các chủ thể thực thi. Việc phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp là yếu tố quan trọng.

5.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về phá sản doanh nghiệp để đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch và khả thi. Cần có hướng dẫn cụ thể về việc xác định tình trạng mất khả năng thanh toán, quy trình quản lý, thanh lý tài sản.

5.2. Nâng cao năng lực của Quản tài viên và Tòa án

Cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Quản tài viên và cán bộ Tòa án, nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng giải quyết các vụ việc phá sản doanh nghiệp. Cần xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra hoạt động của Quản tài viên.

VI. Kinh Nghiệm Phá Sản Doanh Nghiệp Bài Học Từ Thế Giới

Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về thực thi pháp luật phá sản giúp Việt Nam học hỏi và áp dụng những bài học quý giá. Các quốc gia có nền kinh tế phát triển có hệ thống pháp luật phá sản hiệu quả, đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan.

6.1. Pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Nhật Bản

Nhật Bản có hệ thống pháp luật phá sản hiện đại, chú trọng đến việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Luật Phá sản Nhật Bản quy định nhiều thủ tục phục hồi, giúp doanh nghiệp có cơ hội tái cơ cấu và trả nợ.

6.2. Pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Trung Quốc

Trung Quốc đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật phá sản, nhằm giải quyết tình trạng nợ xấu và tái cơ cấu nền kinh tế. Luật Phá sản Trung Quốc có nhiều quy định mới, nhằm bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và người lao động.

26/04/2025
Thực thi pháp luật về phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP “Phá sản” là một hiện tượng không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường. Hiện tượng phá sản từ khi manh nha xuất hiện đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau. Bởi lẽ ở mỗi quốc gia hay mỗi một thời kỳ khác nhau người ta lại tìm ra được những khái niệm phù hợp với quan niệm “phá sản” của nước sở tại cũng như thời kỳ đó. Dưới góc độ thuật ngữ, nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được cho là đến từ hai chữ “Banca Rotta” của La Mã, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” đi cùng với câu chuyện kể rằng: “Thời đó, các thương gia của một thành phố thường họp nhau lại và người nào MKNTT nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia các đại hội thương gia và chiếc ghê ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường”.

Hiện nay, thuật ngữ phá sản không còn xa lạ. Ở một số nước trên thế giới, vẵn sử dụng “Banca Rotta” như một thuật ngữ phá sản, có thể kể đến như trong tiếng Anh là “Bankruptcy” hay trong tiếng Pháp là “Baqueroute” đều có nghĩa là “làm phá sản”. Dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học đã định nghĩa “phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) MKNTT nợ đến hạn hay theo các nói thông thường phá sản là tình trạng một chủ thể bị vỡ nợ không còn bất kì một tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn và bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (thường là Tòa án) tuyên bố phá sản và phân chia tài sản còn lại của con nợ cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật quy định” (Viện khoa học pháp lý, 2006). Vậy định nghĩa “phá sản” nhìn nhận dưới góc độ này được xác định thông qua hai vấn đề.

Một là, chủ thể không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Hai là, bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố phá sản. Theo pháp luật Việt Nam, cho đến tận năm 1990 khi phá sản được thừa nhận là một hậu quả tất yêu của nền kinh tế thị trường thì khái niệm “phá sản” mới được quy định trong hai văn bản pháp lý quan trọng của Việt Nam là: Luật DN Tư nhân và Luật Công ty (đều được ban hành vào ngày 21/12/1990). Khái niệm “phá sản” tại thời điểm này chưa thực sự phù hợp và thể hiện được đầy đủ bản chất của “phá sản”.

Bởi lẽ, theo Luật DN tư nhân và Luât công ty quy định thì việc xác định tình trạng phá 9 sản phụ thuộc vào tổng số giá trị còn lại của công ty. Tuy nhiên trong trường hợp công ty được xóa nợ, hoãn nợ, hay mua lại nợ,… thì mặc dù tổng số tài sản của công ty không đủ để thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn thì cũng không bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Năm 1993, cách hiểu về “phá sản” được hoàn thiện thêm một bước thông qua việc quy định cụ thể trong điều 2 LPS DN năm 1993: “DN đang lâm vào tình trạng phá sản là DN gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn MKNTT nợ đến hạn”. Như vậy, theo LPS DN năm 1993 DN chỉ có thể được coi là lâm vào tình trạng phá sản sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng MKNTT nợ đến hạn.

Tại điều 3 LPS năm 2004 đã quy định: “DN, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Như vậy, từ quy định này có thể thấy một DN được coi là “lâm vào tình trạng phá sản” ở thời điểm này cần có đủ hai yếu tố: “(i) Không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, (ii) DN bị chủ nợ yêu cầu thanh toán” Khác với quy định về “phá sản” được nếu ra bằng cách đưa ra khái niệm “lâm vào tình trạng phá sản” tại quy định của các văn bản luật của thời kỳ trước thì LPS năm 2014 đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm về “phá sản” là gì? Tại khoản 2 điều 4 LPS năm 2014 quy định: “Phá sản là tình trạng của DN, hợp tác xã MKNTT và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Theo đó, tình trạng “MKNTT” của DN được xác định theo khoản 1 điều 4 “DN, hợp tác xã MKNTT là DN, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. LPS năm 2014 đã phần nào hoàn thiện thông qua việc đưa ra được khái niệm “phá sản” và DN “MKNTT” Từ những phân tích nếu trên, ta có thể rút ra định nghĩa về “phá sản” như sau: - Phá sản là tình trạng DN bị MKNTT và bị Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản.

Hậu quả pháp lý của việc này là dẫn tới việc DN bị chấm dứt hoạt động kinh doanh. - Phá sản là thủ tục pháp lý mà DN giải quyết tình trạng MKNTT của mình. LPS và các luật liên quan quy định về thủ tục này. Hậu quả pháp lý của thủ tục có thể 10 dẫn đến hai trường hợp.

Một là, DN có thể được phục hồi sản xuất, kinh doanh. Hai là, DN sẽ bị chấm dứt hoạt động, tài sản và các khoản nợ sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật. Một số vấn đề chung về Luật phá sản doanh nghiệp 1. Khái niệm pháp luật phá sản doanh nghiệp a.

Định nghĩa Theo Giáo trình Luật Thương Mại Việt Nam (2017), tập I – Đại học Luật Hà Nội có đưa ra định nghĩa về PLPS như sau: “PLPS có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN, hợp tác xã”. “PLPS là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các vấn đề liên quan đến điều kiện mở thủ tục phá sản; điều kiện tuyên bố phá sản DN, hợp tác xã; quy định trình tự, thủ tục giải quyết và yêu cầu mở thủ tục phá sản; thi hành quyết định tuyên bố phá sản. Ngoài ra, PLPS còn quy định pháp lý giữa các chủ thể liên quan và các vấn đề phát sinh khác. Đặc điểm Một trong những điểm nổi bật của PLPS trong hệ thống pháp luật Việt Nam đó là vừa mang tư cách pháp luật nội dung lại vừa mang tư cách pháp luật hình thức.

Với tư cách pháp luật nội dung, nó điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ được PLPS điều chỉnh. Ngược lại, với tư cách là pháp luật hình thức, PLPS điều chỉnh quan hệ tố tụng giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và chủ nợ, con nợ và những người có liên quan. Cụ thể theo tác giả Nguyễn Viết Tý, Nguyễn Thị Dung (năm 2017): “(i) Quan hệ tài sản giữa chủ nợ và con nợ Bản chất của mối quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là quan hệ tài sản. Mối quan hệ này được hình thành trong hoạt động kinh doanh của DN, nghĩa là được hình thành từ trước khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Tuy nhiên mối quan hệ này chỉ được điều chỉnh khi có yêu cầu mở thủ tục phá sản. Chủ nợ và con nợ là chủ thể tham gia các quan hệ tài sản này. Chủ nợ có thể là cá nhân, tổ chức có khoản nợ chưa được thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn. Theo khoản 4,5,6 Điều 4 LPS 2014 thì chủ nợ được chia ra làm ba 11 loại: chủ nợ có đảm bảo, chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo một phần.

Con nợ là DN MKNTT khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn. Khách thể của mối quan hệ này là tài sản của DN MKNTT. Nội dung của quan hệ tài sản giữa con nợ và chủ nợ là quyền và nghĩa vụ tài sản của các chủ thể có liên quan. (ii) Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Quan hệ tố tụng giữa các đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền được hình thành trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN.

Chủ thể của mối quan hệ này bao gồm: Một bên là các đương sự gồm chủ nợ, con nợ và những người có liên quan như người lao động, cổ đông công ty cổ phần,… (trong trường hợp họ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản); một bên là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Toàn án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Quản tài viên, DN quản lí, thanh lí tài sản, cơ quan thi hành án dân sự Khách thể của mối quan hệ này là quá trình giải quyết yêu cầu phá sản DN. Nội dung của quan hệ tố tụng giữa đương sự với cơ quan nhà nước có thẩm quyền là những quyền và nghĩa vụ tố tụng cuẩ các đương sự trước Nhà nước hoặc là các hành vị tố tụng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Phân loại Ta có thể chia phá sản thành những loại khác nhau dựa trên những tiêu chí cơ bản khác nhau. Cụ thể như sau: Dựa vào tiêu chí nguyên nhân gây ra phá sản, ta có thể tách phá sản thành “phá sản trung thực” và “phá sản gian trá”.

“Phá sản trung thực” là hậu quả của việc DN kinh doanh làm ăn yếu kém, lỗ vốn dẫn đến tình trạng “MKNTT”. Nguyên nhân việc “MKNTT” của DN có thể đến từ nguyên nhân khách quan như tác động của thị trường, ảnh hưởng của dịch bệnh,… đồng thời cũng có thể đến từ những nguyên nhân chủ quan, tuy nhiên những nguyên nhân chủ quan này sẽ không phải là sự chủ ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác mà nó có thể đến từ những yếu tố như năng lực lãnh đạo của chủ DN yếu kém; kinh nghiệm thích nghi với thị trường còn non trẻ,… “Phá sản gian trá” được hiểu là hậu quả cũng những hành vi gian lận, có chủ ý từ trước nhằm trục lợi cá nhân bất hợp pháp. Chẳng hạn như hành vi làm giả báo cáo tài 12 chính dẫn đến sai lệch trong việc quản lý tài sản của DN, từ đó tạo ra lý do phá sản không trung thực. Dựa vào tiêu chí phát sinh quan hệ pháp lý, ta có thể phân thành “phá sản tự nguyện” và “phá sản bắt buộc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ