Thực hiện pháp luật về quốc phòng của Ủy ban nhân dân cấp xã tại Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích thực hiện pháp luật về quốc phòng của ubnd cấp xã từ thực tiễn thành phố đà nẵng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Tác giả

Võ Thành Long

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

69
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Thực Hiện Pháp Luật Quốc Phòng Tại Đà Nẵng

Quốc phòng là vấn đề sống còn đối với mọi quốc gia. Việt Nam luôn coi trọng nhiệm vụ dựng nước đi đôi với giữ nước. Điều này thể hiện qua việc kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, Nhà nước điều hành và quản lý sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Nghị quyết Đại hội XII khẳng định mục tiêu trọng yếu là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Sức mạnh tổng hợp bao gồm các yếu tố: chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, đối ngoại. Cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh là lực lượng nòng cốt. Hiến pháp năm 2013 cũng đề ra các nguyên tắc cơ bản về bảo vệ Tổ quốc.

1.1. Khái niệm Quốc phòng và An ninh Quốc gia

Khái niệm quốc phòng được hiểu là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Mỗi quốc gia có khái niệm và nội dung quốc phòng riêng. Ở Việt Nam, nó bắt nguồn từ truyền thống dựng nước và giữ nước, được hun đúc bởi lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần kiên cường, dũng cảm, tự lực tự cường, đoàn kết một lòng. An ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng là sự ổn định, phát triển bền vững của một chế độ và nhà nước, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quốc phòng và an ninh không đồng nhất nhưng có cùng mục đích chung nhất và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

1.2. Vai trò của UBND cấp xã trong thực hiện pháp luật quốc phòng

Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai và thực hiện pháp luật về quốc phòng. Để tăng cường hiệu quả, cần có sự thống nhất về các vấn đề chung như: khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp, nguyên tắc quản lý đối với quốc phòng, thực trạng quản lý nhà nước về quốc phòng hiện nay. Do chưa có nhận thức thống nhất về khái niệm, nội dung, phương pháp, chưa thấy rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành nên công tác triển khai thực hiện pháp luật về quốc phòng còn chưa được quan tâm đúng mức. Cần phân định rõ ràng giữa hành chính nhà nước với hành chính quân sự.

II. Thách Thức Trong Thực Thi Pháp Luật Quốc Phòng Tại Đà Nẵng

Việc thực hiện pháp luật về quốc phòng tại Đà Nẵng đối mặt với nhiều thách thức. Một trong số đó là sự thiếu thống nhất trong nhận thức về khái niệm, nội dung và phương pháp thực hiện. Điều này dẫn đến việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật gặp nhiều vướng mắc. Sự phân định chưa rõ ràng giữa hành chính nhà nước và hành chính quân sự cũng gây khó khăn trong quá trình chỉ đạo và quy trách nhiệm. Bên cạnh đó, công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ. Nguồn lực đầu tư cho công tác quốc phòng còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo trang thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết. Cần có giải pháp đồng bộ để khắc phục những hạn chế này.

2.1. Nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật quốc phòng

Một số người dân và cán bộ còn có nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công tác quốc phòng, coi đây là nhiệm vụ của riêng lực lượng vũ trang. Điều này dẫn đến sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong việc tham gia các hoạt động quốc phòng. Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của toàn dân về vai trò, trách nhiệm của mình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cần làm rõ sự khác biệt giữa quốc phòngquân sự, tránh sự nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện.

2.2. Thiếu nguồn lực và cơ sở vật chất cho quốc phòng

Nguồn lực đầu tư cho công tác quốc phòng, đặc biệt là ở cấp xã, còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng đảm bảo trang thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho lực lượng vũ trang địa phương. Cần có chính sách ưu tiên đầu tư cho công tác quốc phòng, đặc biệt là ở các địa bàn trọng điểm. Cần huy động các nguồn lực xã hội để tăng cường tiềm lực quốc phòng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

2.3. Phối hợp chưa chặt chẽ giữa các ban ngành

Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện pháp luật về quốc phòng chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ. Điều này dẫn đến tình trạng chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ, ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Cần xây dựng quy chế phối hợp cụ thể, rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả giữa các lực lượng.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Pháp Luật Quốc Phòng

Để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quốc phòng tại Đà Nẵng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của toàn dân về vai trò, trách nhiệm của mình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi. Cần tăng cường đầu tư nguồn lực cho công tác quốc phòng, đặc biệt là ở cấp xã. Cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác quốc phòng, đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo việc thực hiện pháp luật về quốc phòng được nghiêm minh, hiệu quả.

3.1. Tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật quốc phòng

Cần đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quốc phòng, phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, tổ chức các hội nghị, hội thảo, các hoạt động văn hóa, văn nghệ để tuyên truyền về pháp luật quốc phòng. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể quần chúng trong công tác tuyên truyền, giáo dục. Xây dựng các tài liệu tuyên truyền, giáo dục dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với trình độ dân trí của người dân.

3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng

Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, khả thi. Xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, nghị định, thông tư về quốc phòng, đảm bảo tính cụ thể, chi tiết. Ban hành các chính sách ưu đãi đối với người tham gia các hoạt động quốc phòng. Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về quốc phòng.

3.3. Nâng cao năng lực cán bộ quốc phòng địa phương

Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác quốc phòng. Cập nhật kiến thức mới về pháp luật quốc phòng, về tình hình an ninh, quốc phòng trong nước và quốc tế. Trang bị cho cán bộ các kỹ năng cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, như kỹ năng tuyên truyền, vận động quần chúng, kỹ năng xử lý tình huống. Tạo điều kiện cho cán bộ tham quan, học tập kinh nghiệm ở các địa phương khác.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Đánh Giá Hiệu Quả Pháp Luật Quốc Phòng

Việc ứng dụng pháp luật về quốc phòng vào thực tiễn tại Đà Nẵng đã đạt được những kết quả nhất định. Nhận thức của người dân về vai trò, trách nhiệm của mình trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đã được nâng lên. Hệ thống chính trị ở cơ sở được củng cố, tăng cường. Tiềm lực quốc phòng được tăng cường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá hiệu quả của việc thực hiện pháp luật về quốc phòng để có những điều chỉnh, bổ sung phù hợp.

4.1. Đánh giá tác động của pháp luật quốc phòng đến kinh tế xã hội

Nghiên cứu, đánh giá tác động của việc thực hiện pháp luật về quốc phòng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Xác định những tác động tích cực và tiêu cực, từ đó có những giải pháp khắc phục. Đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Xây dựng các mô hình kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế.

4.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện

Phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện pháp luật về quốc phòng. Xác định những yếu tố thuận lợi và khó khăn, từ đó có những giải pháp tháo gỡ. Đánh giá vai trò của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về quốc phòng. Đánh giá vai trò của người dân trong việc tham gia các hoạt động quốc phòng.

V. Kết Luận Và Định Hướng Phát Triển Pháp Luật Quốc Phòng Đà Nẵng

Thực hiện pháp luật về quốc phòng là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đà Nẵng cần tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế còn tồn tại, để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quốc phòng. Cần có tầm nhìn chiến lược, định hướng phát triển pháp luật về quốc phòng phù hợp với tình hình mới. Cần xây dựng Đà Nẵng thành một địa phương vững mạnh về quốc phòng, an ninh, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

5.1. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật quốc phòng

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đánh giá, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật về quốc phòng. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, khả thi. Kiến nghị ban hành các chính sách ưu đãi đối với người tham gia các hoạt động quốc phòng. Kiến nghị xây dựng cơ chế bảo vệ người tố giác các hành vi vi phạm pháp luật về quốc phòng.

5.2. Xây dựng Đà Nẵng thành khu vực phòng thủ vững chắc

Xây dựng Đà Nẵng thành một khu vực phòng thủ vững chắc, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, đảm bảo khả năng phòng thủ vững chắc. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, có khả năng chiến đấu cao. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

10/06/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật về quốc phòng của ubnd cấp xã từ thực tiễn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUỐC PHÒNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật về quốc phòng của Uỷ ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm về thực hiện pháp luật về quốc phòng “Quốc phòng” là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Để làm sáng tỏ khái niệm trên, chúng ta xác định rõ đặt thù nền quốc phòng của mỗi quốc gia.

Thực tiễn hiện nay trên thế giới, mỗi quốc gia đều có khái niệm cụ thể và những nội dung về quốc phòng để thực thi nhiệm vụ khác nhau. Đối với Việt Nam nó bắt nguồn từ truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông ta, truyền thống ấy được hun đúc bởi lòng yêu nước nồng nàn, được đúc kết bởi tinh thần kiên cường, dũng cảm, tự lực tự cường, đoàn kết một lòng. Do đó, nền quốc phòng của Việt Nam khác với nền quốc phòng của các quốc gia khác. Đó là công cuộc dựng nước và giữ nước: gồm những nội dung như đối nội, đối ngoại cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ.

Mục đích của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là xây dựng khu vực phòng thủ rộng khắp, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh từ trung ương đến địa phương, trong đó xây dựng quân đội chính quy tinh nhuệ, từng bước hiện đại là lực lượng trung thành, phát huy sức mạnh tổng hợp đặt trưng của quân đội anh hùng bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân trong mọi tình huống. Theo quan niệm của Cộng hòa liên Bang Nga, thuật ngữ “Quốc phòng” nêu trong luật Quốc phòng 1992 được hiểu là hệ thống các biện pháp chính 8 trị, kinh tế, quân sự, xã hội hợp hiến, nhằm mục đích tạo ra mức độ sẵn sàng của đất nước, để bảo vệ, chống cuộc tiến công vũ trang, cũng như bảo vệ tài sản công dân, bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền của liên Bang Nga xác định các cơ sở và tổ chức quốc phòng của liên Bang Nga, các quyền và trách nhiệm của các cơ quan quản lý và quyền Nhà nước, các cơ quan quản lý địa phương, các tổ chức, các quan chức và công dân trong lĩnh vực phòng thủ; cấu trúc và tổ chức của các lực lượng vũ trang liên Bang Nga, trách nhiệm đối với những vi phạm pháp luật của liên Bang Nga về vấn đề quốc phòng [21]. Đối với Nhà nước Trung Hoa, Luật Quốc phòng năm 1997 xác định “Quốc phòng là bảo đảm an ninh cho việc sinh tồn và phát triển quốc gia” (Điều 3). Trong luật Quốc phòng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngoài chương nguyên tắc chung và chương nguyên tác phụ, có 10 chương đề cập đến những vấn đề hết sức cơ bản như: Chức trách và quyền hạn quốc phòng trong cơ cấu Nhà nước; lực lượng vũ trang; Phòng vệ biên giới, phòng thủ biển và phòng không; Nghiên cứu sản xuất quốc phòng và đặt hàng quân sự; Kinh phí quốc phòng và tài sản quốc phòng; Giáo dục quốc phòng; Động viên Quốc phòng và trạng thái chiến tranh; Nghĩa vụ và quyền lợi của quân nhân; Quan hệ đối ngoại quân sự.

Có tài liệu của Trung Quốc chỉ ra khái niệm “Quốc phòng là sự đảm bảo quan trọng cho an toàn sinh tồn và an toàn phát triển của quốc gia”. Do đó, Luật quốc phòng có phạm vi điều chỉnh rất rộng, nó đề cập tới các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục của quốc gia. Theo quy định của luật này, Nhà nước phải sử dụng thích đáng Luật Quốc phòng để tiến hành các hoạt động quân sự, các mặt hoạt động có liên quan đến quân sự như chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học kỹ thuật, giáo dục… để phòng thủ và chống xâm lược, ngăn chặn lật đổ vũ trang, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia [28, tr. 9 Như vậy khái niệm “quốc phòng” và “an ninh” được hiểu như thế nào? An ninh quốc gia được hiểu theo nghĩa rộng đó chính là sự ổn định, phát triển bền vững của một chế độ và nhà nước đó, sự bất khả xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Như vậy ở nước ta, lý tưởng chính trị, quan điểm chính trị, các chuẩn mực chính trị và pháp quyền, đạo đức… thể hiện ý chí nguyện vọng của giai cấp công nhân, được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược đó là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của công an, do đó quân đội và công an phải dựa vào sức mạnh của quần chúng nhân dân thì lực lượng vũ trang mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ được giao. Trong thực tiễn hiện nay, vấn đề an ninh quốc gia và theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về an ninh quốc gia đã được nhận thức lại, nội dung bao hàm cả an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội, trong đó an ninh chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu và xuyên suốt trong quá trình tực hiện. Như vậy, chúng ta khẳng định rằng bảo vệ an ninh quốc gia ở đây là bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội, mà thực tế chính là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN, gắn chặt với bảo vệ Tổ quốc vững chắc trong mọi tình huống.

Vậy “quốc phòng” và “an ninh” không đồng nhất nhưng có cùng mục đích chung nhất và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xuyên suốt hơn 4000 năm lịch sử, nước ta đã nhiều lần đứng lên chống chiến tranh xâm lược từ phương Bắc và hai đế quốc hùng mạnh. Do vậy, khi đề cặp đến nội dung quốc phòng có nhiều quan điểm nhận thức đơn giản về quân sự, việc xây dựng khu vực phòng thủ để đề phòng chiến tranh xâm lược 10 của các thế lực thù địch là yêu cầu cần thiết nhưng nhận thức của một số người chưa đúng về “quốc phòng” là “quân sự” hoặc quốc phòng và quân đội chỉ là một [27]. Quốc phòng và quân sự không đồng nghĩa nhau nhưng có mối liên quan đến khái niệm quân sự.

Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa “Quân sự” hiểu theo 2 nghĩa: 1) “Quân sự” là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của xã hội liên quan đến đấu tranh vũ trang, chiến tranh và quân đội; 2) “Quân sự” là một trong những mặt hoạt động cơ bản của quân đội, cùng các mặt khác (chính trị, hậu cần, kỹ thuật…) tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội [22]. Theo cách định nghĩa trên, ta thấy khái niệm “quân sự” hiểu theo nghĩa rộng đó là những mặt hoạt động của xã hội có liên quan đến đấu tranh vũ trang và quân đội, bảo đảm cho đấu tranh vũ trang giành thắng lợi. Theo nghĩa hẹp, khái niệm quân sự là một trong những mặt hoạt động của quân đội như tác chiến, huấn luyện quân sự… Hoạt động quân sự là hoạt động mang tính chính trị rõ rệt và cũng chính là hoạt động bảo vệ Tổ quốc. Đây là nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của quân đội ta.Mác và Ăng Ghen khẳng định, chiến tranh là một hiện tượng chính trị, xã hội mang tính lịch sử.

Chiến tranh là sự thử thách đối với các lực lượng vũ trang và thử thách nghiêm khắc đối với một chế độ xã hội. Khi kẻ thù xâm lược đất nước, muốn giành thắng lợi chúng ta phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, trong đó quân đội là lực lượng chính phát huy sức mạnh tổng lực trong đó việc dùng vũ lực là thủ đoạn chính trị sau cùng. Trong lời nói đầu của Hiến pháp 1946 khẳng định “nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ”, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Hiến pháp 1959, khi đề cập đến nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Chính phủ, đã quy định Chính phủ lãnh đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang của Nhà nước (Điều 74).

11 Về nội hàm của khái niệm “quốc phòng”, đã có sự kế thừa và phát triển mới. Hiến pháp 1992 xác định “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, nòng cốt là các lực lượng vũ trang nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc” (Điều 44). Đến Hiến pháp 2013 xác định “Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nhà hoạch định chiến lược về luật đã làm rõ hơn khái niệm về “quốc phòng” đó là sự chủ động phòng thủ, giữ gìn an ninh quốc gia ổn định trong mọi tình huống.

Quốc gia được cấu thành bởi bốn yếu tố cơ bản: Có lãnh thổ được xác định; một cộng đồng dân cư ổn định; có chính phủ với tư cách là người dại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế; có khả năng độc lập tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế. Hiến pháp 2013 nước ta quy định “Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” (Điều 1). Quốc gia là nước có chủ quyền và quyền tài phán, hoàn toàn được độc lập, hoàn toàn được tự do và hạnh phúc, đời sống nhân dân được ấm no, bảo đảm được lợi ích quốc gia trên cơ sở các lợi ích về chính trị, lợi ích kinh tế và an ninh. Đó là lợi ích sinh tồn và lợi ích phát triển.

Nếu chúng ta mất cảnh giác và không có tiềm lực quốc phòng, quân sự đủ mạnh để bảo vệ hòa bình thì nguy cơ bị thôn tính, xâm lược cũng khó tránh khỏi [20, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ