CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Những vấn đề chung về bổ nhiệm cán bộ, công chức và pháp luật về bổ nhiệm cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ, công chức và bổ nhiệm cán bộ, công chức 1. Khái niệm cán bộ Hiện nay, về mặt chính thức, Cán bộ được ghi nhận trong khoản 1, điều 4, Luật Cán bộ, công chức ban hành ngày 13/11/2008, co hiệu lực từ ngày 01/01/2010.
Theo đo, “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phô trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phô thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [31]. Qua định nghĩa trên, co thể nhận thấy được những đặc điểm cơ bản của cán bộ như sau: - Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam. - Thứ hai, cơ sở hình thành: bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm. - Thứ ba, về nơi làm việc: Cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phô trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phô thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện).
- Thứ tư, thời gian làm việc: theo nhiệm kỳ kể từ ngày co quyết định phê chuẩn kết quả bầu cử. - Thứ năm, vị trí và chế độ: Cán bộ được tính trong biên chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm công chức Công chức được ghi nhận tại khoản 2, điều 4, Luật Cán bộ, công chức ban hành ngày 13/11/2008, co hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Theo đo, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quôc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản ly của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đôi với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản ly của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [31].
Những đặc điểm cơ bản của công chức như sau: - Phải là công dân Việt Nam. - Cơ sở hình thành: công chức được hình thành thông qua tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch. Trong đo, tuyển dụng bao gồm: thi tuyển và xét tuyển. - Nơi làm việc: Công chức làm việc trong: + Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; + Trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân trừ những người là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quôc phòng; + Trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân trừ những người là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; + Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị sự nghiệp công lập 14 theo khoản 1 điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”[30]. - Thứ tư, thời gian làm việc: Thời gian làm việc của công chức được tính kể từ khi được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc được ky kết giữa công chức và đơn vị sử dụng công chức co hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. - Thứ năm, chế độ lao động: công chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sử dụng theo quy định của pháp luật. Điều đo co nghĩa giữa công chức và bên tuyển dụng co sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên. Khái niệm bổ nhiệm cán bộ, công chức Ở đây, nếu hiểu một cách đơn giản thì bổ nhiệm là lựa chọn người để giữ chức vụ lãnh đạo co thời hạn trong cơ quan, đơn vị. Với y nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào đều phải tiến hành hoạt động bổ nhiệm. Bổ nhiệm phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên, như vậy mới đúng nghĩa là "lựa chọn”[52].
Trong phần lớn các lĩnh vực, sô lượng vị trí chức danh lãnh đạo thường ít hơn sô ứng viên. Do vậy, khi co nhiều ứng viên tham gia ứng tuyển cho một vị trí việc làm co hạn sẽ khiến người bổ nhiệm co nhiều cơ hội để lựa chọn hơn, nếu thực hiện một cách công bằng sẽ lựa chọn người co trình độ chuyên môn cao nhất, xứng đáng nhất. Theo Quyết định sô 27/2003/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo. Tại khoản 1 điều 2 quy định: 15 “Bổ nhiệm là việc người đứng đầu cơ quan co thẩm quyền ra quyết định cử cán bộ, công chức giữ một chức vụ lãnh đạo co thời hạn trong cơ quan, đơn vị.
Trong khi đo, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 lại quy định:“Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản ly hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật" [31]. Co thể thấy, khái niệm “bổ nhiệm” theo Quyết định sô 27/2003/QĐ- TTg và Luật cán bộ, công chức năm 2008 không đặt ra một điều kiện cụ thể nào liên quan đến bản thân cá nhân người tham gia ứng tuyển. Bổ nhiệm là một hoạt động diễn ra trong thời gian ngắn nhưng lại ảnh hưởng lâu dài tới sự tồn tại và phát triển của một đơn vị. Bổ nhiệm được người xứng đáng, co năng lực cung chính là việc sử dụng hợp ly, co hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước đầu tư cho các cơ quan, đơn vị.
Từ những phân tích trên đây, co thể hiểu: Bổ nhiệm cán bộ, công chức là việc lựa chọn những công dân Việt Nam có đủ các điền kiện theo quy định của pháp luật giữ chức vụ lãnh đạo tại các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống các cơ quan nhà nước, việc bổ nhiệm được thực hiện căn cứ vào nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý. Pháp luật về bổ nhiệm cán bộ, công chức Pháp luật là hệ thông những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện y chí của giai cấp thông trị và là nhân tô điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Nhà nước cộng hoà xã hội Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, do đó pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động. Pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bổ nhiệm cán 16 bộ, công chức.
Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tham gia vào quy trình bổ nhiệm; quy định các chế tài để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật trong việc tổ chức bổ nhiệm và tham gia ứng tuyển; quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan, tổ chức co thẩm quyền bổ nhiệm. Pháp luật về bổ nhiệm cán bộ, công chức tại nước ta dần được xây dựng, hoàn thiện qua từng thời kỳ. Hiến pháp năm 1992, 2013 là cơ sở pháp ly cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cán bộ, công chức. Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 ra đời (sửa đổi năm 2003) là cột môc quan trọng trong pháp luật về cán bộ, công chức, cán bộ, công chức.
Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên cụ thể hoá những quy định về cán bộ, cán bộ, công chức tại Hiến pháp 1992. Pháp lệnh đã xây dựng những nội dung cơ bản về tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, quản ly cán bộ, công chức. Bên cạnh đo, các cơ quan nhà nước đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, sử dụng và quản ly cán bộ, công chức. Các văn bản này gồm: Nghị định 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng, quản ly cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước; Nghị định 121/2006/NĐ- CP ngày 23/10/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một sô điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP; Thông tư 10/2004/TT-BNV ngày 19/02/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2003/NĐ-CP;.
Những nghị định, thông tư này đã xây dựng những quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục, quy trình trong bổ nhiệm cán bộ, công chức. Đến 13/11/2008, Luật Cán bộ, công chức đã được Quôc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua và co hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Luật gồm 10 chương, 86 điều, dành 01 điều quy định về bổ nhiệm cán bộ, công chức (điều 51) và sự xuất hiện của hàng loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn đã càng tạo ra cơ sở 17 pháp ly vững chắc cho hoạt động bổ nhiệm cán bộ, công chức được tiến hành hiệu quả, thông nhất và phù hợp với nhu cầu của nhân dân, xã hội và tình hình mới của đất nước.