CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm, đặc điểm thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính. Khái niệm thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính Khái niệm: Theo giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, 2017 của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia sự thật quy định khái niệm như sau: “Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình, nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Dưới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hay không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật” [4, Tr 455-456].
Mặt khác, theo giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, 2017 của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia sự thật thể hiện: “Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế, hợp pháp có mục đích của các chủ thể pháp luật nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống” [4, Tr 457]. Từ những khái niệm cơ bản trên, có thể khái niệm thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính là việc các chủ thể (bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án) thực hiện tính mệnh lệnh, tự nguyện thi hành 9 án hành chính đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật…theo luật tố tụng hành chính. Đặc điểm thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính Thứ nhất, thực hiện pháp luật về THAHC là hành vi của các chủ thể phải THAHC thông qua việc thi hành hoặc không thi hành đối với các quyết định, bản án của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Thứ hai, thực hiện pháp luật về THAHC đối tượng thi hành án hành chính bao gồm bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm theo luật tố tụng hành chính.
Thứ ba, chủ thể phải thực hiện pháp luật về THAHC là các cơ quan quản lý nhà nước, công chức, viên chức và các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khác có liên quan. Thứ tư, thực hiện pháp luật về THAHC được triển khai theo các cách khác nhau nhưng quan trọng nhất là sự tuân thủ và tính chấp hành pháp luật của người phải thi hành án. Thứ năm, thực hiện pháp luật về THAHC mang tính chất tự nguyện và không có cơ quan chuyên trách để cưỡng chế. Tính tự nguyện được thể hiện thời hạn thực hiện 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, hết thời gian tự nguyện và bắt buộc thi hành án thì ít có cơ quan thi hành án nào phải cưỡng chế vì người phải thi hành án hành chính thường là những cơ quan nhạy cảm, phức tạp cùng trên một đơn vị hành chính cấp huyện hoặc cấp tỉnh. Thứ sáu, không phải mọi phán quyết trong bản án, quyết định của tòa án về vụ án hành chính đều được điều chỉnh hoàn toàn bởi pháp luật tố tụng hành chính, vì những phán quyết của tòa án về phần tài sản trong bản án, quyết định của tòa án trong vụ án hành chính sẽ được điều chỉnh bởi Luật THADS và được tổ chức thực hiện theo quy trình THADS (Căn cứ theo điểm 10 h, khoản 1 Điều 311 Luật Tố tụng hành chính năm 2015), cụ thể: Đối với bản án, quyết định của tòa án trong vụ án hành chính, thủ trưởng cơ quan THADS chỉ thụ lý và ra quyết định thi hành án đối với phần nghĩa vụ về tài sản như án phí, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản… được tuyên cụ thể trong bản án, quyết định của tòa án. Chủ thể thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính 1. Chủ thể thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính Chủ thể nào là bên được thi hành thi và bên phải thi hành án hành chính phụ thuộc vào hoàn toàn các phán quyết nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để thi hành.
Chủ thể thi hành án hành chính theo Luật tố tụng hành chính 2015 và Nghị định 71/2016/NĐ-CP quy định bao gồm: Người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính. Đối tượng thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính. Đối tượng thi hành án nói chung là bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án và còn đối tượng của Thi hành án hành chính nói riêng là các bản án, quyết định của Tòa án về VAHC, cụ thể tại Điều 309 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định về bản án, quyết định của Tòa án được thi hành gồm: 1. Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm. Nếu bản án sơ thẩm nói chung, bản án hành chính sơ thẩm nói riêng có hiệu lực sau 15 ngày nếu không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực ngay. Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án. Khi thực hiện thủ tục tố tụng hành chính để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đều được đưa ra thi hành.
Quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều 296 của Luật này. Quyết định theo thủ tục đặc biệt do hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành sau khi hội đồng thẩm phán TAND tối cao hủy quyết định của chính mình có vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới làm thay đổi toàn bộ bản chất vụ án và được thông qua 3/4 thành viên hội đồng TAND tối cao tán thành. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mặc dù có khiếu nại, kiến nghị. Khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, có những quyết định sau được ban hành như: Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời; Quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đều được đưa ra thi hành dù có khiếu nại hay khiến nghị.
Tuy nhiên, về phần tài sản, bồi thường thiệt hại được quy định của pháp luật về THADS. Mặt khác, cần lưu ý có một số trường hợp tuy không được nêu rõ trong điều luật nhưng không phải đưa ra thi hành bản án hoặc quyết định đó là những trường hợp như: Bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại hoặc hủy bản án, quyết định của Tòa án đã giải quyết và đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nội dung thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính 12 1. Quy trình thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng Điều 106 để quy định về việc cá nhân, cơ quan, tổ chức phải tôn trọng và chấp hành phán quyết của Tòa án, cụ thể: “Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [1, Tr 71].
Có thể thấy, hiến pháp năm 2013 đã công nhận một nguyên tắc có tính chất nền tảng để ràng buộc các tổ chức, cá nhân phải tôn trọng và chấp hành phán quyết của Tòa án nhằm bảo đảm những phán quyết của Tòa án được thực thi nghiêm minh, thông qua đó công lý xã hội được thực thi, nguyên tắc pháp chế bảo đảm xã hội chủ nghĩa và quyền công dân, con người được công bằng, thượng tôn. Thực hiện pháp luật là tiến trình, hình thức thủ tục chung THAHC được hiện thực hóa. Vì vậy, nội dung thực hiện pháp luật về thi hành án hành chính là trình tự, thủ tục THAHC theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 bao gồm các bước sau: Bước 1. Tự nguyện thi hành án Tự nguyện thi hành án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án.
Hết thời gian 30 ngày tự nguyện thi hành án và trong 03 ngày làm việc sau đó, cơ quan THA phải thông báo kết quả cho TAND đã xét xử và VKSND cùng cấp. Việc quy định cụ thể thời gian tự nguyện THAHC nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự đặc biệt đối với người được thi hành án trong việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình thi hành án và những chủ thể cần thiết khác trong cơ quan quản lý Nhà nước. Kết thúc thời gian tự nguyện thi hành án hành chính, thì người phải thi hành án hành chính có trách nhiệm thông báo kết quả tự nguyện thi hành án hành chính cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan 13 THADS cùng cấp và cơ quan cấp trên trực tiếp trường hợp người phải thi hành án là người bị kiện. Yêu cầu ra quyết định buộc thi hành án hành chính Người được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu tòa án ra quyết định buộc THAHC, tòa án ra quyết định buộc THAHC trong thời hạn 01 năm tính từ ngày hết thời hạn tự nguyện 30 ngày đối với người phải THAHC.
Quyết định buộc thi hành án phải được gửi cho người phải thi hành án, người được thi hành án và Tòa án đã xét xử phải ra quyết định buộc thi hành án.