Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp luật và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy 1. Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy Ngay từ những năm sáu mươi, trong điều kiện miền Bắc bắt đầu bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên xuất phát điểm từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc với hình thức sở hữu toàn dân và tập thể; hình thức quản lý chủ yếu theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa; một số cơ sở công nghiệp mới bắt đầu được hình thành…thì công tác phòng cháy và chữa cháy đã được chú trọng như một nhiệm vụ song hành với xây dựng và phát triển kinh tế xã hội. Với mục đích bảo vệ tài sản của nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo vệ trật tự an ninh chung, ngày 27 tháng 9 năm 1961, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành pháp lệnh số 53 quy định việc quản lý của nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy. Ngay từ Điều 1, Pháp lệnh đã quy định việc phòng cháy và chữa cháy là nghĩa vụ của mỗi công dân, mỗi công dân phải tích cực đề phòng để không xảy ra nạn cháy, luôn luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, triệt để tuân theo các quy định về phòng cháy, chuẩn bị sẵn sàng để khi cần có thể chữa cháy kịp thời và hiệu quả.
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, do sự phát triển của nền kinh tế- xã hội, đặc biệt là quá trình hội nhập, mở cửa, liên doanh liên kết với nước ngoài để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã làm cho các đối tượng quản lý phát triển rất đa dạng với tính chất và yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy ngày càng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi ở trình độ kỹ thuật cao. Sự xuất hiện các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp kỹ thuật cao; sự hình thành những ngành kinh tế mũi nhọn như: khai thác chế biến dầu mỏ khí 7 z đốt, khai khoáng, điện tử, hóa chất, vật liệu xây dựng…mà đặc điểm của quá trình này là việc sử dụng và sản xuất ra ngày càng tăng các nguyên liệu, các chất dễ cháy, đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác phòng cháy và chữa cháy. Trên phương diện xã hội: việc hình thành các trung tâm đô thị lớn tập trung, các khu chung cư cao tầng và quá trình đô thị hoá nông thôn đã đặt ra những yêu cầu mới cho công tác phòng cháy và chữa cháy ngay từ khâu thiết kế quy hoạch đến việc bảo đảm an toàn phòng cháy chữa cháy cho cộng đồng dân cư tại những khu đô thị tập trung. Mặt khác, đời sống của các tầng lớp dân cư ngày càng cao được chứng tỏ bằng việc sử dụng ngày càng nhiều các thiết bị, đồ dùng có giá trị kinh tế lớn nhưng cũng ẩn chứa trong đó đặc tính nguy hiểm liên quan đến cháy, nổ.
Những tác động về kinh tế, xã hội tới an toàn phòng cháy và chữa cháy đã dẫn đến yêu cầu về phòng cháy và chữa cháy ngày phải được nâng cao, trong đó không thể thiếu việc cần phải luật hóa các quy định về phòng cháy và chữa cháy. Trong khi đó việc quản lý nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy còn nhiều bất cập, việc thực hiện trách nhiệm phòng cháy và chữa cháy của một bộ phận những người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cơ sở, đơn vị chưa tốt. Ý thức phòng cháy và chữa cháy của một bộ phận nhân dân chưa cao, thiếu nhiều điều kiện đảm bảo an toàn phòng cháy và chữa cháy. Trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn nặng về lợi nhuận mà coi nhẹ việc bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy.
Phong trào quần chúng làm công tác phòng cháy và chữa cháy chưa được sâu rộng. Lực lượng phòng cháy và chữa cháy tuy đã cùng toàn dân hạn chế được những thiệt hại về cháy và có những sự trưởng thành, song nhìn chung còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phương tiện trang bị cho lực lượng phòng cháy chữa cháy vừa thiếu lại vừa yếu, đặc biệt là đối với các phương tiện chữa cháy các đám cháy 8 z lớn, phức tạp, cháy nhà cao tầng, cháy rừng…Nhiều vụ cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng đã xảy ra, tình hình cháy và thiệt hại do cháy gây ra có xu hướng ngày càng tăng. Cơ sở hạ tầng về giao thông, nguồn nước phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy chưa đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là tại các thành phố lớn.
Sự biến đổi khí hậu toàn cầu cũng tác động không nhỏ tới tình hình cháy, nổ. Trong xu thế hội nhập, mở rộng đầu tư hợp tác với nước ngoài cũng như thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhiều công ty, các đối tác nước ngoài tiếp tục mở rộng hợp tác và đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Yêu cầu phòng cháy và chữa cháy lại liên quan hầu hết đến các lĩnh vực nên một trong những vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm là tìm hiểu các quy định về phòng cháy và chữa cháy của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta lại thiếu những quy định về phòng cháy chữa cháy và chưa được luật hóa trong khi các nước có nền công nghiệp phát triển đều có Luật phòng cháy và chữa cháy.
Trước những tình hình trên, ngày 12/7/2001, Chủ tịch nước ký Lệnh số 08 công bố ban hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và ngày 4/10/2001, Luật Phòng cháy và chữa cháy có hiệu lực thi hành. Đây là nguồn cơ bản nhất của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy Việt Nam hiện hành. Sự ra đời của Luật phòng cháy và chữa cháy đã cho thấy vai trò quan trọng thiết yếu của công tác phòng cháy và chữa cháy. So với Pháp lệnh số 53/1961/PL-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc quản lý đối với công tác phòng cháy và chữa cháy thì Luật phòng cháy và chữa cháy đã cho thấy tính toàn diện và hệ thống hơn.
Trong các quy định của Luật đã đề cập đến hầu hết các vấn đề của phòng cháy và chữa cháy từ phòng cháy, chữa cháy, tổ chức lực lượng phòng cháy và chữa cháy phương tiện phòng cháy và chữa cháy đến đầu tư cho hoạt động phòng cháy và chữa cháy, quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy. Luật phòng cháy và 9 z chữa cháy là đạo luật quan trọng trong hệ thống pháp luật về phòng cháy và chữa cháy, điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy nhằm bảo đảm an toàn cháy, nổ; cho việc tổ chức, triển khai kịp thời công tác chữa cháy, cứu người, cứu tài sản, chống cháy lan và nhanh chóng dập tắt đám cháy, góp phần bảo đảm an ninh và trật tự an toàn xã hội. Tổng kết 10 năm thi hành Luật phòng cháy chữa cháy (10/2002- 10/2011), trong Báo cáo của Chính phủ trình bày trước Hội nghị đã chỉ rõ mục tiêu, yêu cầu cơ bản của công tác phòng cháy chữa cháy trong những năm tới là: Kiềm chế sự gia tăng cả về số vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy lớn gây hậu quả nghiêm trọng, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [9]. Mười năm qua, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp và sự cố gắng thực hiện của các Bộ, ngành, địa phương, trong đó nòng cốt là lực lượng Công an, công tác phòng cháy và chữa cháy ở nhiều nơi đã đi vào nền nếp; phong trào toàn dân tham gia phòng cháy, chữa cháy được đẩy mạnh và ngày càng phát triển sâu rộng; hiệu lực quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy được tăng cường…, những kết quả đó đã từng bước kiềm chế sự gia tăng về số vụ cháy và thiệt hại do cháy gây ra trong thời gian qua, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội phục vụ sự phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước.
Mười năm qua là thời gian để minh chứng rằng Luật phòng cháy và chữa cháy là cơ sở lý luận quan trọng, đảm bảo hiệu quả hoạt động phòng cháy và chữa cháy của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, các nhân trong việc thực hiện pháp luật về phòng cháy và chữa cháy. Luật phòng cháy và chữa cháy ra đời đã góp phần nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong hoạt động phòng cháy và 10 z chữa cháy đồng thời là cơ sở để xã hội hóa hoạt động phòng cháy và chữa cháy. Bên cạnh đó, Luật phòng cháy và chữa cháy cũng là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng cháy và chữa cháy. Hiệu lực của các quy định pháp luật trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy được nâng cao do Nhà nước sử dụng nhiều các văn bản luật.
Đây là những điều kiện tiền đề rất thuận lợi cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy. Chính vì lý do này nên các quy định của pháp luật phòng cháy và chữa cháy đã từng bước phát huy được tác dụng của chúng trong thực tế. Để cụ thể hóa Luật phòng cháy và chữa cháy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 35/2003/NĐ-CP ngày 04/4/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng cháy và chữa cháy; Nghị định số 123/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy. Ngay mới đây, vào tháng 5 năm 2012, Chính phủ đã ban hành tiếp hai nghị định Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22/5/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP và Nghị định số 52/2012/NĐ-CP ngày 14/06/2012 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy thay thế Nghị định 123/2005/NĐ-CP.
Ngoài Luật phòng cháy và chữa cháy còn có các văn bản dưới luật khác có chứa đựng một số quy định về phòng cháy và chữa cháy như: Nghị định số 64/2005/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý vật liệu nổ công nghiệp. Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng.