MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về phát triển khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Chương trình hành động số 91-CTr/TU ngày 29/10/2013 về thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chương trình hành động chính là bước nhằm triển khai chính sách của Đảng, Nhà nước và nêu rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện chính sách. Cấp ủy, chính quyền, các sở, ban, ngành trong tỉnh đã cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết bằng những chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương và đặc thù của từng ngành, cơ quan, đơn vị.
Ngày 11/4/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 418/QĐ- TTg về việc xây dựng Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ (KH&CN) giai đoạn 2011 - 2020 với 02 nội dung chính được đặt làm quốc sách hàng đầu đó là: Phát triển KH&CN và phát triển giáo dục và đào tạo [33, tr. Trước đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại và hội nhập quốc tế, việc thực hiện chính sách khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn là một nhiệm vụ quan trọng góp phần vào tiến trình phát triển chung của xã hội. Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về KH&CN, trong những năm qua Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn đã có những đóng góp đáng kể vào thành tích chung của tỉnh và cho sự phát triển lĩnh vực khoa học và công nghệ của cả nước. Tuy nhiên, khoa học và công nghệ của tỉnh cho đến nay chưa thực sự 1 trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan: Việc huy động nguồn lực của xã hội vào hoạt động khoa học và công nghệ chưa được chú trọng đúng mức, đầu tư cho khoa học và công nghệ còn thấp, hiệu quả ứng dụng chưa cao.
Cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ còn chưa có thay đổi đáng kể, nguồn lực tài chính dành cho KHCN chưa được phân bổ hợp lý. Việc gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học công nghệ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều bất cập. Thị trường khoa học và công nghệ của tỉnh mới đang từng bước hình thành, các kết quả nghiên cứu, ứng dụng của các đề tài, dự án về khoa học đôi khi chưa gắn với thực tiễn nhu cầu của nhân dân và cơ quan quản lý. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao,.
Kinh tế phát triển chủ yếu nông lâm nghiệp và thương mại - du lịch, dân cư phần lớn là người đồng bào thiểu số sinh sống thưa thớt, tập quán canh tác còn lạc hậu, manh mún,… Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, có một nguyên nhân quan trọng đó là hoạt động khoa học và công nghệ chưa thực sự hiệu quả do cơ chế, chính sách về tài chính đối với khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập. Cơ chế hỗ trợ nhân rộng các mô hình triển khai, ứng dụng tiến bộ KH&CN,. để đưa KH&CN vào thực tiễn đời sống chưa thực sự đủ mạnh nên cho dù việc xây dựng những mô hình điển hình có kết quả tốt nhưng việc phổ biến, nhân rộng còn hạn chế. Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ “góp phần khẳng định phát triển và ứng dụng Khoa học và Công nghệ là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách quản lý khoa học và công nghệ.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: "Thực hiện chính sách khoa học và công nghệ từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn" làm đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trong những năm qua, KH&CN thế giới phát triển mạnh mẽ, vượt bậc, xu hướng toàn cầu hiện nay với việc bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) đã và đang được các nhà khoa học nghiên cứu và thảo luận rộng rãi và bước đầu có những ứng dụng thành công vào đời sống, sản xuất. Hiện tại, KH&CN của tất cả các nước trên thế giới là lực lượng sản xuất chính nhằm phát triển và cũng là nền móng cho kinh tế tri thức đối với các quốc gia phát triển.
Trong đó, khoa học cơ bản không những được tiếp tục phát triển ở trình độ rất cao mà còn được thu hẹp khoảng cách, tích hợp chặt chẽ với kỹ thuật - công nghệ và khoa học ứng dụng. Đặc biệt, các khoa học liên ngành phát triển mạnh, góp phần hình thành các lĩnh vực mới, ngành nghề mới, phi truyền thống. Công tác quản lý và dự báo KH&CN truyền thống thường dựa trên hệ thống chuyên gia. Trong 10 năm qua, với sự phát triển của các hệ thống cơ sở dữ liệu học thuật của Web of Knowledge - ISI (Thomson Reuters, Hoa Kỳ), Scopus (Elsevier, Hà Lan), việc phân tích trắc lượng thư mục đã mang lại rất nhiều hữu ích.
Mới đây, trên cơ sở các nghiên cứu trắc lượng thư mục, Thomson Reuters, Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và Đại học Quốc gia Hà Nội đã công bố các xu thế nghiên cứu nổi trội, dự báo các đổi mới sáng tạo vào năm 2025 của thế giới và tình hình tiếp cận của Việt Nam (PDF) Dự báo xu thế phát triển khoa học công nghệ thế giới. Thông tin này là cơ sở để Việt Nam xác định định hướng hội nhập quốc tế về KH&CN, thực hiện tốt Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế và đưa chính sách vào thực hiện trong thực tế. 3 - Trung Quốc - Theo China Association for Science and Technology: Chính sách khoa học và công nghệ của Trung Quốc đã phát triển qua 4 giai đoạn kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949. Trong giai đoạn đầu đến năm 1959, công nghệ đã hỗ trợ việc xây dựng nền công nghiệp nặng.
Giai đoạn 2 từ sau cuộc Cách mạng Văn hóa năm 1976 khi mà nền kinh tế trì trệ. Và giai đoạn ba được tính tới năm 2001, đánh dấu bằng những cải cách của Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, trong đó chú trọng phát triển các cơ sở nghiên cứu độc lập và chuyển dần sang nghiên cứu định hướng thị trường, nghiên cứu sản phẩm. Giai đoạn thứ tư từ năm 2002 đến 2015, các chính sách của Trung Quốc ngày càng ủng hộ công nghiệp hóa công nghệ cao cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp xanh còn non trẻ. Các nhà hoạch định chính sách công nghệ của Trung Quốc đã thúc đẩy một nền kinh tế theo hướng đổi mới.
Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc là cơ quan hoạch định và điều phối các chính sách đồng thời tài trợ cho các dự án phát triển công nghệ quan trọng nhất. - Đức - Theo Germany, a world leader in technology, engineering and innovatio[45]: Đức là một quốc gia hàng đầu về công nghệ, kỹ thuật và đổi mới: Rất ít quốc gia có đóng góp nhiều cho khoa học và công nghệ như Đức, từ vật lý, hóa học đến xe hơi và sản phẩm tiêu dùng. Đức là quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới và luôn tự hào bởi hệ thống các trường đại học và viện nghiên cứu hàng đầu cùng với ngành công nghiệp kỹ thuật, công nghệ thông tin và sản xuất chất lượng cao. Một loạt các dự án do EU tài trợ, điều phối bởi các công ty, trường đại học và viện nghiên cứu của Đức.
Đức có một nền kinh tế dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng hóa với một loạt các công ty có vị trí khó có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đặc biệt trong sản xuất máy móc và thiết bị vận tải. Tăng trưởng kinh tế của đất nước phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu trong năm 2009. Đức phát triển chiến lược công nghệ cao 4 (HTS), đây chính là tiềm năng thị trường trong lĩnh vực công nghệ. Từ những năm 2010, HTS đã tập trung đặc biệt vào nhu cầu của xã hội để phát triển và thực hiện cách tiếp cận các chính sách tương lai.
Từ năm 2014, HTS tập trung vào các ngành công nghiệp, nghiên cứu và một số lĩnh vực mới như kinh tế kỹ thuật số, xã hội, một nền kinh tế và hệ thống năng lượng bền vững, nơi làm việc sáng tạo và an ninh dân sự. Chính phủ Đức cũng chú trọng đến đổi mới các công cụ nhằm tăng cường hợp tác giữa các doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và tăng cường sự tham gia tích cực của xã hội vào việc phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới.1: Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của một số cường quốc trên thế giới (tỷ USD, ppp) Xếp Nước/ 2012 2013 2014 hạng lãnh NC&PT NC&PT NC&PT toàn thổ GDP *GERD GDP *GERD GDP *GERD / GDP / GDP / GDP cầu 1 Hoa 15.748 3,6% 63 Quốc *GERD: Tổng đầu tư trong nước cho NC&PT. NC&PT Magazine. International Monetary Fund.
CIA World Factbook, 12/2013) Kinh nghiệm từ các cường quốc trên thế giới cho thấy: Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế - 5 xã hội của mỗi quốc gia, các nước giữ vững cam kết gia tăng đầu tư cho nghiên cứu, phát triển KHCN và đổi mới sáng tạo nhằm phát triển, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và đối phó với những thách thức, yếu tố tác động đến thực hiện chính sách của quốc gia. Hoạch định đúng, chiến lược đúng và thực hiện đúng sẽ mang lại giá trị to lớn đặc biệt trong việc duy trì và củng cố vị thế của một quốc gia trên thế giới.