Phần mở đầu. - Chương II. Những tác động của các chính sách thị trường kéo đến nhu cầu ĐMCN ở doanh nghiệp dệt tỉnh Nam Định. - Chương III.
Các giải pháp thực thi đối với chính sách thị trường kéo để kích thích nhu cầu ĐMCN ở các doanh nghiệp dệt tỉnh Nam Định. - Kết luận và khuyến nghị. - Tài liệu tham khảo. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ.
Những vấn đề cơ bản về công nghệ: 1. Những vấn đề chung về công nghệ: 1. Khái niệm công nghệ: Từ những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “công nghệ” được sử dụng để chỉ các hoạt động ứng dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ở mọi lĩnh vực nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người. Khái niệm CN này dần được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới nhưng việc đưa ra định nghĩa CN lại chưa có sự thống nhất, nguyên nhân là do tính đa dạng của CN, sự đa dạng trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và sự phát triển của KH&CN… Các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học đã cố gắng đưa ra một định nghĩa về CN có thể dung hoà các quan điểm, đồng thời tạo thuận lợi cho việc phát triển và hoà nhập của các quốc gia.
Và bốn khía cạnh cần bao quát trong định nghĩa CN gồm: - Khía cạnh “công nghệ là máy biến đổi”: đề cập đến khả năng làm ra đồ vật của CN. Cần phân biệt giữa khái niệm CN và kỹ thuật, hai khái niệm này đều quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật, song CN không những chỉ quan tâm tới việc tạo ra các đồ vật mà còn quan tâm tới hiệu quả của quá trình đó; - Khía cạnh “công nghệ là một công cụ”: nhấn mạnh vào dạng tồn tại vật chất của CN. Công nghệ là một sản phẩm của con người, do đó con người có thể làm chủ được nó. Vì là một công cụ nên CN có mối quan hệ chặt chẽ đối với con người và cơ cấu tổ chức; - Khía cạnh “công nghệ là kiến thức”: nhấn mạnh vào dạng tồn tại phi vật chất của CN, khía cạnh này đề cập đến cốt lõi của mọi hoạt động CN là kiến thức và nó bác bỏ quan niệm CN phải là các vật thể nhìn thấy được.
Đặc trưng kiến thức khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ, đồng thời nhấn mạnh rằng không phải ở các quốc gia có các CN giống nhau sẽ đạt được kết quả như nhau. Việc sử dụng một CN đòi hỏi con người cần phải được đào tạo về kỹ năng, kiến thức và luôn cập nhật những kiến thức đó; 8 z - Khía cạnh “công nghệ hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó” dù là kiến thức song vẫn có thể mua được, bán được. CN là một loại hàng hoá, đó là do CN hàm chứa trong các vật thể tạo nên nó. Từ các khía cạnh trên, trong luận văn này CN được hiểu theo định nghĩa do uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP): Công nghệ là “hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin.
Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” [2, tr. Định nghĩa về CN theo ESCAP có tính bao quát các khía cạnh liên quan đến CN. Công nghệ là hệ thống kiến thức, nhấn mạnh bản chất cốt lõi của CN là kiến thức, khẳng định vai trò dẫn đường của khoa học đối với công nghệ. Công nghệ có khả năng chế biến các nguồn lực thành hàng hoá và dịch vụ, do đó phải đáp ứng được mục tiêu sử dụng và các yêu cầu về kinh tế để được áp dụng trong thực tế.
CN là công cụ, phương tiện, nhấn mạnh đó là sản phẩm của con người và con người có thể làm chủ được nó. CN hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó như kiến thức, kỹ năng, thiết bị, các hệ thống… do đó CN có thể mua bán được. Theo định nghĩa này, khái niệm CN không chỉ áp dụng cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm vật chất mà còn được áp dụng cho các lĩnh vực sản xuất ra các sản phẩm phi vật chất như các dịch vụ xã hội… Hiện nay, thuật ngữ CN được sử dụng rộng rãi nhưng có rất nhiều định nghĩa khác nhau tuỳ theo từng quan điểm, từng mục đích sử dụng. Ví dụ: - Theo quan điểm của UNIDO: Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp [2, tr.
- Theo Luật khoa học và công nghệ (Việt Nam): Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm [2, tr. Tuy còn có sự khác nhau giữa các định nghĩa này, nhưng xu thế chung hiện nay trên thế giới nhấn mạnh vào khía cạnh CN là tri thức còn máy móc, thiết bị chỉ 9 z là vật mang tri thức. Vấn đề quan trọng nhất trong các định nghĩa về CN đó chính là tri thức khoa học. Các thành phần cơ bản của công nghệ: Một CN dù đơn giản hay phức tạp đều gồm có bốn thành phần tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn.
Các thành phần này hàm chứa trong các bộ phận của vật tư kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức: - CN hàm chứa trong các vật thể bao gồm mọi phương tiện vật chất như: công cụ, thiết bị, máy móc, vật liệu, phương tiện vật chất… Trong sản xuất, các vật thể này hợp thành dây chuyền để thực hiện quá trình biến đổi gọi là dây chuyền CN. Dạng hàm chứa này là phần vật tư kỹ thuật (T-Technoware); - CN hàm chứa trong kỹ năng công nghệ của con người làm việc trong CN bao gồm mọi năng lực của con người như kỹ năng do học hỏi, tích lũy được trong quá trình hoạt động, nó cũng bao gồm tố chất của con người như tính sáng tạo, sự nhanh nhẹn, khả năng lãnh đạo, đạo đức lao động…. Dạng hàm chứa này của công nghệ gọi là phần con người (H-Humanware); - CN hàm chứa trong các khung thể chế, tạo nên hệ khung tổ chức của CN như những quy định về trách nhiệm quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong CN, quy trình đào tạo công nhân, kỹ sư, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần kỹ thuật và phần con người. Dạng hàm chứa này của công nghệ gọi là phần tổ chức (O-Organware); - CN hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá được sử dụng trong CN bao gồm các dữ liệu về phần kỹ thuật, phần con người và phần tổ chức.
Dạng hàm chứa này của công nghệ gọi là phần thông tin (I-Inforware). Các đặc trưng cơ bản của công nghệ: CN là một loại hàng hoá nhưng là hàng hoá đặc biệt vì nó sản sinh ra sản phẩm, do vậy có những đặc trưng rất khác biệt với các loại hàng hoá khác. Vòng đời của công nghệ: - Vòng đời vật tư - kỹ thuật: quá trình hình thành phần cứng CN bắt đầu từ nghiên cứu nhu cầu, thiết kế chế tạo, sản xuất thử sau đó là sản xuất hàng loạt và 10 z cuối cùng là thay thế CN này bằng CN mới khi CN này đi vào trạng thái bão hoà rồi suy tàn; - Vòng đời nhân lực KH-CN: để có được tri thức và khả năng CN, con người phải trải qua quá trình nuôi dưỡng, giáo dục, đào tạo, phát triển và nâng cao kiến thức tay nghề. Một đời người thường sử dụng nhiều CN vì vậy khi CN kết thúc thì con người vẫn tồn tại một cách khách quan với CN đó; - Vòng đời của tổ chức công nghệ: tổ chức CN được hình thành từ việc nhận thức vấn đề, trên cơ sở đó tiến hành bước chuẩn bị và thiết kế khung tổ chức, bố trí nhân lực, sau đó điều hành công việc.
Trong quá trình điều hành hoạt động, tổ chức theo dõi, phản hồi để điều chỉnh cho phù hợp với thay đổi cả bên trong và bên ngoài; - Vòng đời của thông tin công nghệ: vòng đời của thông tin bắt đầu từ tìm kiếm thông tin, phân tích và lựa chọn thông tin, sau đó lưu trữ và sử dụng, phổ biến thông tin. Một thông tin có thể dùng cho nhiều CN. Chu kỳ sống của công nghệ: Sự phát triển của một CN có quy luật biến đổi theo thời gian. Trong thời gian tồn tại, CN luôn biến đổi về tham số thực hiện của CN, về quan hệ với thị trường… Một DN muốn phát triển hay duy trì vị thế của mình phải biết đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình sản xuất và thay thế CN sử dụng đúng lúc khi có những thay đổi trong KH&CN và nhu cầu thị trường.
Để làm được việc này DN cần phải biết CN mà mình đang sử dụng đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống. Muốn xác định chu kỳ sống của một CN đang hoạt động cần phải có thông tin có hệ thống về CN, về tiến bộ KH&CN liên quan, về thị trường sản phẩm của CN và kiến thức về dự báo CN mới xác định được sự phát triển của CN trong tương lai. Cho dù CN là nhập khẩu hay tự phát sinh trong nước thì nó vẫn trải qua hàng loạt giai đoạn, các giai đoạn này tạo nên chu kỳ sống của CN. Chu kỳ sống của CN mô tả quy luật ra đời, phát triển và kết thúc của một CN theo thời gian, chu kỳ CN trải qua 4 giai đoạn chính, gồm có: giai đoạn đổi mới, giai đoạn áp dụng, giai đoạn phổ biến, giai đoạn thay thế.
Mục tiêu của quản lý công nghệ: 11 z 1. Mục tiêu quản lý công nghệ quốc gia: Quản lý Nhà nước về CN là dạng quản lý trong đó chủ thể quản lý chính là Nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước của bộ máy hành chính Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực phát triển CN. Mục tiêu QLCN chú trọng vào việc xây dựng các chính sách để tạo điều kiện cho các tiến bộ KH&CN, chú trọng đến các CN đang hoạt động để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế bền vững và ngăn ngừa các tác động xấu của CN có thể gây ra cho con người và môi trường tự nhiên.