CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DI CHÚC VÀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC 1. Một số vấn đề về di chúc 1. Khái niệm di chúc Dựa vào định nghĩa về di chúc của Từ điển tiếng việt và tại Điều 624 của BLDS để phân tích thì “di chúc là phương tiện phản ánh ý chí tự nguyện cuối cùng trước lúc chết của cá nhân về việc định đoạt tài sản của họ cho người khác phù hợp với qui định của pháp luật, hay nói cách khác di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”1, theo đó thì pháp nhân, tổ chức không có quyền lập di chúc. Với quy định này thì di chúc phải có các yếu tố sau: Đó là sự thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác; Mục đích của việc lập di chúc là chuyển tài sản là di sản của mình cho người khác; Di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết.
Di chúc là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc, do đó di chúc phải tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng. Vì vậy, một người muốn định đoạt tài sản của mình bằng di chúc, cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc. Người lập di chúc có quyền để lại tài sản là di sản của mình cho bất cứ ai dựa trên tình cảm và ý chí của họ. Theo quy định của BLDS thì có hai hình thức của di chúc là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản.
Tại Điều 627 BLDS 2015 quy định “Di chúc phải được thành lập thành văn bản; Nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”. 1 Điều 624 của BLDS quy định “Di chúc là phương tiện phản ánh ý chí tự nguyện cuối cùng trước lúc chết của cá nhân về việc định đoạt tài sản của họ cho người khác phù hợp với quy định của pháp luật, hay nói cách khác di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” 7 1. Đặc điểm di chúc Di chúc thể hiện quyền tự định đoạt tài sản của người lập di chúc nhằm chuyển dịch tài sản thuộc sở hữu của mình cho người khác sau khi chết. Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các chủ thể nhằm dịch chuyển tài sản từ người này sang người khác, thì di chúc nhằm chuyển dịch tài sản của người chết sang cho người còn sống.
Vì vậy chủ thể thừa kế nói chung và những người thừa kế theo di chúc nói riêng phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di sản thừa kế. Pháp luật cho phép mọi công dân có quyền định đoạt tài sản của mình, trong đó có việc để lại di sản thừa kế theo di chúc, nhưng pháp luật cũng chỉ công nhận khi di chúc của công dân đó phải thỏa mãn những điều kiện mà pháp luật quy định. Trong thực tiễn đã có không ít những di chúc không tuân thủ theo những quy định của pháp luật về hình thức, nội dung dẫn đến việc di chúc không được công nhận do di chúc không có hiệu lực hoặc có hiệu lực một phần. Di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc.
Ý chí đơn phương này là điểm khác biệt của di chúc so với các loại giao dịch dân sự khác, được thể hiện qua việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết mà không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt đó. Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nội dung di chúc. Người lập di chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡng ép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bị chi phối bởi người khác.
Bằng việc lập di chúc, người để lại di sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc. Ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện ở việc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, có thể cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trăm số tài sản sở hữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởng thừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hay thân thích với người lập di chúc. Người lập di chúc có thể để lại tài sản nhiều hay ít hoặc không cho 8 người nào trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự có ý chí của các bên tham gia đều phải được thể hiện như: các bên tự nguyện thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi, thống nhất thì di chúc là hành vi pháp lý đơn phương, thể hiện ý chí duy nhất của người lập di chúc.
Trong các loại hợp đồng dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất những điều, khoản ghi nhận trong hợp đồng rồi cùng nhau ký kết hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lập di chúc và người nhận được thừa kế theo di chúc. Phần lớn những người được nhận phần di sản theo di chúc họ hoàn toàn không biết mình được hưởng quyền thừa kế này vì các di chúc đa số được công bố khi người lập di chúc chết, lúc người lập di chúc còn sống thì tất cả đều phải giữ bí mật. Do di chúc phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế của người lập di chúc cho nên khi còn sống, người lập di chúc có quyền sửa đổi, thậm chí là hủy bỏ nội dung di chúc đã lập trước đó để thay thế nội dung di chúc khác, có quyền thay đổi người nhận di sản thừa kế theo di chúc sau khi họ đã chết. Pháp luật luôn tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của người lập di chúc, người lập di chúc lúc còn sống có quyền thực hiện việc sửa đổi, hủy bỏ di chúc đã lập.
Do đó, di chúc đã lập không mang tính cố định mà nó sẽ bị thay đổi, hủy bỏ tùy thuộc vào ý chí của người lập di chúc để lại di sản thừa kế sau khi họ chết. Di chúc lập ra phải theo một hình thức nhất định, để đảm bảo di chúc được thực hiện thì người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép lập di chúc. Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, việc lập di chúc phải tuân thủ theo một hình thức mà pháp luật quy định. Có hai hình thức lập di chúc đó là lập di chúc bằng văn bản và lập di chúc bằng miệng.
Việc lập di chúc bằng miệng được thực hiện khi người lập di chúc đang trong tình trạng tính mạng bị đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản. Di chúc miệng chỉ có hiệu lực pháp luật trong thời hạn ba tháng kể từ thời điểm di chúc miệng, sau ba tháng mà người di chúc miệng vẫn còn sống và tinh thần minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng đương nhiên sẽ bị hủy bỏ. Vì nếu người di 9 chúc miệng còn sống và tinh thần minh mẫn, sáng suốt thì sẽ có điều kiện lập di chúc bằng văn bản, đây cũng là điểm hạn chế đối với di chúc miệng. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc Di chúc là một loại giao dịch dân sự nên muốn có hiệu lực phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
Mặt khác, là một loại giao dịch đặc biệt nên di chúc muốn được coi là hợp pháp và có hiệu lực phải đáp ứng một số yêu cầu mà pháp luật thừa kế quy định. Nội dung của di chúc Nội dung của di chúc là tổng hợp tất cả các vấn đề mà người lập di chúc đã định đoạt. Một di chúc chỉ được thừa nhận nếu sự định đoạt ấy không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Quy định về ngày, tháng, năm lập di chúc Việc quy định ngày, tháng, năm lập di chúc là một quy định bắt buộc đối với di chúc bằng văn bản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 631 của Bộ luật Dân sự năm 20152, nó thể hiện tầm quan trọng của di chúc, xác định được thời điểm lập di chúc, là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét hiệu lực của di chúc và cũng là căn cứ để giải quyết tranh chấp nếu xảy ra Ví dụ: Một người lập nhiều bản di chúc để lại tài sản cho người thừa kế, căn cứ vào ngày, tháng, năm của các bản di chúc chúng ta có thể biết được di chúc nào có trước, di chúc nào có sau để xác định hiệu lực của nó Quy định về họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc Trong tất cả các giao dịch dân sự thì việc ghi rõ họ, tên, nơi cư trú của các chủ thể tham gia là không thể thiếu.
Việc ghi rõ những thông tin này giúp chúng ta xác định được chủ thể của quan hệ pháp luật đó. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó 2 Điểm a khoản 1 Điều 631 của BLDS năm 2015. 10 thường xuyên sinh sống, nơi có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú. Khi không xác định được thì nơi cư trú của cá nhân là nơi đang sinh sống, làm việc hoặc nơi có tài sản hoặc nơi có phần lớn tài sản (nếu tài sản của người đó ở nhiều nơi).
Người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý. Người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể có nơi cư trú khác với người giám hộ nếu được người giám hộ đồng ý Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 631 của Bộ luật Dân sự có quy định nội dung di chúc phải ghi rõ họ, tên, nơi cư trú của người lập di chúc để xác định về mặt chủ thể trong việc lập di chúc3.