Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG - Liquefied Petroleum Gas) giữ vai trò là một trong những nguồn năng lượng thiết yếu phục vụ đời sống dân sinh và các ngành sản xuất công nghiệp tại Việt Nam. Theo số liệu được tác giả công bố trong khóa luận, thị trường LPG nội địa duy trì mức tăng trưởng liên tục trên 12%/năm trong giai đoạn 2015–2020. Cơ cấu tiêu thụ LPG phân bổ thành hai nhóm chính: khối cơ sở công nghiệp và giao thông vận tải chiếm 35%, khối cơ sở thương mại, dịch vụ và tiêu thụ dân dụng chiếm 65%. Mặc dù nhu cầu tiêu thụ cao, nguồn cung LPG từ các nhà máy lọc hóa dầu và chế biến khí trong nước mới chỉ đáp ứng được 45% thị phần; 55% nhu cầu còn lại bắt buộc phải nhập khẩu từ các thị trường quốc tế như Trung Quốc, Qatar, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Do đó, giá LPG trong nước chịu sự chi phối trực tiếp từ biến động giá thế giới.

Trong môi trường thương mại quốc tế, Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP (PGC) phải đối mặt với áp lực cạnh tranh nội bộ từ hàng trăm thương hiệu kinh doanh khí, cùng sự cạnh tranh từ các nguồn năng lượng thay thế như khí thấp áp, khí thiên nhiên nén (CNG) và bếp từ. Giai đoạn 2019–2020 chứng kiến thêm hai biến động lớn: tác động của đại dịch Covid-19 khiến nhu cầu sử dụng gas trong trường học, khách sạn, nhà hàng giảm sút nghiêm trọng; cùng với việc ban hành Nghị định 100/2019/NĐ-CP làm suy giảm sản lượng tiêu thụ dòng bình thương mại cỡ lớn (45kg và 48kg) tại các nhà hàng, quán ăn – phân khúc vốn là thế mạnh truyền thống của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, tối ưu hóa quy trình thủ tục hải quan đối với LPG nhập khẩu nhằm rút ngắn thời gian giải phóng hàng, hạn chế chi phí lưu tàu bến bãi và đảm bảo tuân thủ pháp luật chuyên ngành trở thành nhiệm vụ mang tính sống còn đối với hiệu quả kinh doanh của Tổng Công ty.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định thành 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận chung và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu cũng như thủ tục hải quan đối với mặt hàng khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng thực hiện thủ tục hải quan đối với LPG nhập khẩu tại Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP giai đoạn 2018–2020, làm rõ các kết quả đạt được, những vướng mắc phát sinh và nguyên nhân tồn tại.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hải quan đối với LPG tại doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước và ngành Hải quan.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thủ tục hải quan đối với khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung tại Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP (trụ sở tại Tòa nhà MIPEC, 229 Tây Sơn, quận Đống Đa, Hà Nội cùng hệ thống kho cảng đầu mối trực thuộc). Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian giới hạn trong giai đoạn 3 năm, từ năm 2018 đến hết năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quy định pháp luật quản lý ngoại thương và quản lý hải quan của Việt Nam kết hợp các chuẩn mực quốc tế:

  • Cơ sở pháp lý quốc gia: Luật Hải quan số 54/2014/QH13; Luật Thương mại 2005 số 36/2005/QH11 (Điều 28 quy định về hoạt động nhập khẩu hàng hóa); Luật Quản lý Thuế số 38/2019/QH14; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13; Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi các luật về thuế; Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi thi hành Luật Hải quan; Nghị định 69/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Quản trị Ngoại thương; Nghị định 68/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh kho bãi, địa điểm kiểm tra hải quan; Nghị định 132/2008/NĐ-CP và Nghị định 74/2018/NĐ-CP về kiểm tra nhà nước đối với chất lượng hàng hóa nhập khẩu; Thông tư 38/2015/TT-BTC và Thông tư 39/2018/TT-BTC về thủ tục hải quan và kiểm tra, giám sát hải quan; Thông tư số 69/2016/TT-BTC quy định riêng về thủ tục hải quan đối với xăng dầu, hóa chất và khí xuất nhập khẩu; Thông tư 28/2012/TT-BKHCN và Thông tư 02/2017/TT-BKHCN về công bố hợp quy.
  • Cơ sở pháp lý và thông lệ quốc tế: Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999 của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan; Công ước về Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (Công ước HS); Hiệp định Trị giá Hải quan GATT; Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (UCP 600) cùng bản diễn giải ISBP 745; các điều kiện thương mại quốc tế Incoterms 2010 và Incoterms 2020.
  • Quy chuẩn chất lượng sản phẩm: Áp dụng phương thức kiểm tra chất lượng chuyên ngành đối với LPG nhập khẩu theo Phương thức 7 (Thử nghiệm mẫu đại diện, đánh giá sự phù hợp của lô sản phẩm, hàng hóa) được quy định tại Thông tư 28/2012/TT-BKHCN, cấp bởi tổ chức thử nghiệm do Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chỉ định. Yêu cầu kiểm tra mùi đặc trưng của LPG dân dụng theo TCVN 6548:2019 (nhận biết ở nồng độ 20% giới hạn cháy dưới).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai nhóm phương pháp:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP giai đoạn 2018–2020; hồ sơ, tờ khai và bộ chứng từ hải quan thực tế tại Phòng Xuất nhập khẩu; các văn bản pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ. Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua quan sát thực tế quy trình xử lý nghiệp vụ thông quan tại đơn vị thực tập.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê để lượng hóa số lượng tờ khai, tỷ lệ phân luồng và nghĩa vụ thuế; phương pháp phân tích nhằm mổ xẻ các mắt xích tác nghiệp trong hệ thống phần mềm hải quan; phương pháp so sánh (tuyệt đối và tương đối) để đánh giá sự biến động về doanh thu, chi phí, cơ cấu mặt hàng và các chỉ số kinh doanh qua từng năm; phương pháp tổng hợp để rút ra kết luận logic về thành tựu, hạn chế và đề xuất nhóm giải pháp tương ứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận cơ bản về thủ tục hải quan đối với khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu

Chương 1 làm rõ các nội dung nền tảng về bản chất hoạt động nhập khẩu hàng hóa, các nguyên tắc vận hành của thủ tục hải quan, đặc tính lý - hóa - kỹ thuật của LPG và quy trình thủ tục hải quan điện tử qua hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS.

Về bản chất kỹ thuật, khí dầu mỏ hóa lỏng là hỗn hợp hydrocacbon dạng parafin với thành phần chính gồm Propane ($C_3H_8$) và Butane ($C_4H_{10}$), thuộc mã HS 2711.19.00. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất thường, LPG tồn tại ở thể khí; khi được nén hoặc làm lạnh đến ngưỡng nhất định, khí chuyển sang thể lỏng với tỷ lệ ngưng - nở thể tích đạt 1 đơn vị thể tích lỏng tương đương 250 đơn vị thể tích khí. Ở thể lỏng, LPG nhẹ hơn nước (tỷ trọng Butane lỏng là 0,575 và Propane lỏng là 0,510 tại $15^\circ C$); ở thể hơi, LPG nặng hơn không khí từ 1,5 đến 2 lần (tỷ trọng hơi Butane là 2,01 và Propane là 1,52), dẫn tới đặc tính nguy hiểm khi rò rỉ sẽ chìm sát mặt đất, đọng lại tại các vị trí trũng, hố ga, cống rãnh. Do nhiệt độ sôi rất thấp (Butane sôi ở $-0,5^\circ C$, Propane sôi ở $-42^\circ C$), các thiết bị chứa bồn chỉ được phép nạp 80% – 85% dung tích nhằm dự phòng độ dãn nở nhiệt (lớn gấp 15–20 lần so với nước). Nhằm phòng ngừa nguy cơ rò rỉ khí gây ngạt và cháy nổ, khí LPG thương phẩm bắt buộc phải được pha chất tạo mùi Etylmecaptan với nồng độ cho phép phát hiện trước khi hơi gas đạt ngưỡng 1/5 giới hạn cháy nổ dưới (LEL).

Nhiên liệu Giới hạn cháy dưới (LEL - % thể tích) Giới hạn cháy trên (UEL - % thể tích) Nhiệt độ tự bắt cháy trong không khí ($^\circ C$) Trị số Octan (Phương pháp động cơ D-357)
Propane 2,2 10,0 400 – 500 99,5
Butane 1,8 9,0 410 – 550 89,1
Xăng 0,5 7,0 280 – 430 —
Hydro 4,0 75,0 550 – 590 —
Acetylene 2,5 80,0 395 – 500 —
Khí than 4,0 29,0 — —

Nguồn: Tổng hợp từ các bảng số liệu Chương 1 khóa luận (dẫn nguồn Bộ Khoa học và Công nghệ)

Chương này trình bày chi tiết quy trình 5 bước thực hiện thủ tục hải quan đối với LPG nhập khẩu theo Thông tư 38/2015/TT-BTC, Thông tư 39/2018/TT-BTC và Thông tư 69/2016/TT-BTC:

  • Bước 1: Chuẩn bị bộ hồ sơ hải quan: Gồm tờ khai hải quan nhập khẩu (theo mẫu HQ/2015/NK hoặc bản điện tử theo Phụ lục II); hóa đơn thương mại (01 bản chụp); vận đơn đường biển (01 bản chụp); giấy đăng ký giám định lượng và giấy đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng (01 bản chụp); hợp đồng mua bán; chứng thư giám định/chứng nhận hợp quy; giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh/xuất nhập khẩu khí do Bộ Công Thương cấp đối với thương nhân làm thủ tục lần đầu. Thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ không quá 02 giờ làm việc, kiểm tra thực tế hàng hóa không quá 08 giờ làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận (có thể gia hạn tối đa không quá 02 ngày với lô hàng phức tạp).
  • Bước 2: Khai báo hải quan điện tử: Thực hiện nghiệp vụ IDA (nhập 133 chỉ tiêu thông tin) trên hệ thống VNACCS. Hệ thống tự động phản hồi dữ liệu tính thuế trên màn hình IDC. Trường hợp cần sửa đổi trước khi đăng ký chính thức, người khai hải quan dùng nghiệp vụ IDB để gọi lại bản IDA. Hệ thống tự động đối soát điều kiện đăng ký tờ khai, từ chối cấp số nếu doanh nghiệp nợ thuế quá hạn trên 90 ngày hoặc đang giải thể, phá sản.
  • Bước 3: Tiếp nhận kết quả phân luồng và xử lý tờ khai: Tờ khai được phân vào 3 luồng: Luồng Xanh (hệ thống thông quan tự động trong khoảng 03 giây nếu không phát sinh thuế hoặc nộp bằng hạn mức/bảo lãnh); Luồng Vàng (cơ quan hải quan kiểm tra hồ sơ giấy/điện tử trên hệ thống VCIS, dùng nghiệp vụ CEA để xác nhận hoàn tất); Luồng Đỏ (cơ quan hải quan kiểm tra chi tiết hồ sơ kết hợp kiểm tra thực tế hàng hóa, áp dụng nghiệp vụ CKO để thông báo hình thức kiểm tra hoặc chuyển luồng, nghiệp vụ IDA01 để hướng dẫn sửa đổi).
  • Bước 4: Nộp thuế và hoàn tất nghĩa vụ tài chính: Tính toán trị giá tính thuế theo phương pháp trị giá giao dịch, xác định tỷ giá tính thuế cập nhật theo ngày gửi tờ khai IDC, đối soát mã miễn/giảm thuế và áp thuế suất thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng.
  • Bước 5: Thông quan và giải phóng hàng hóa: Căn cứ Điều 36 Luật Hải quan 2014 và Điều 33 Thông tư 38/2015/TT-BTC, cho phép giải phóng hàng hóa đối với lô LPG chưa xác định được số thuế chính thức trong thời gian chờ tham vấn giá nếu người khai hải quan đã nộp thuế hoặc có bảo lãnh ngân hàng.

Chương 2: Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan đối với khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu tại Tổng Công ty Gas Petrolimex - CTCP

Chương 2 tập trung khảo sát Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP (mã số thuế 0101447725; xếp hạng 334 trong bảng xếp hạng VNR500 năm 2016). Tiền thân là ngành hàng gas thuộc Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam thành lập ngày 25/12/1998 theo Quyết định số 1653/QĐ-BTM của Bộ Thương mại. Doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ngày 03/12/2003 (Quyết định số 1669/2003/QĐ-BTM) và tái cấu trúc thành Tổng Công ty Gas Petrolimex theo Quyết định số 828/QĐ-TTg ngày 31/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Cơ cấu tổ chức của Tổng Công ty bao gồm các phòng ban tham mưu (Phòng Tổ chức Hành chính, Phòng Kế toán Tài chính, Phòng Công nghệ Đầu tư, Phòng Xuất nhập khẩu & Tổng hợp, Phòng Kinh doanh Gas, Phòng Công nghệ thông tin) cùng 5 đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc: Công ty TNHH Gas Petrolimex Hà Nội, Công ty TNHH Gas Petrolimex Hải Phòng, Công ty TNHH Gas Petrolimex Đà Nẵng, Công ty TNHH Gas Petrolimex Sài Gòn và Công ty TNHH Gas Petrolimex Cần Thơ. Ngoài ra, Tổng Công ty tham gia góp vốn tại 3 đơn vị liên kết: Công ty TNHH Cơ khí Gas, Công ty Cổ phần Taxi Gas Sài Gòn và Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại PLG.

Khu vực địa lý Tên kho cảng đầu mối Sức chứa kho bãi Hạ tầng kỹ thuật phụ trợ
Miền Bắc Kho Gas Đình Vũ, Thượng Lý, Đức Giang 3.000 tấn Cầu cảng nước sâu đón tàu biển trọng tải lớn, nhà máy chiết nạp công nghệ tự động
Miền Trung Kho Gas Thọ Quang 1.000 tấn Cầu cảng chuyên dụng xuất nhập khí, bồn chứa chịu áp lực
Miền Nam Kho Gas Nhà Bè Khoảng 2.800 tấn Cầu cảng nước sâu, hệ thống bồn chứa chịu áp suất cao
Tây Nam Bộ Kho Gas Trà Nóc 800 tấn Cầu cảng tiếp nhận sà lan và tàu tải trọng phù hợp vùng sông, trạm chiết nạp
Toàn hệ thống Mạng lưới kho đầu mối 7.600 tấn Mạng lưới trạm cấp bồn công nghiệp và trạm chiết cấp 2 tại các tỉnh thành

Nguồn: Trích xuất số liệu cơ sở vật chất kỹ thuật của PGC tại Chương 2 khóa luận

Thực trạng kinh doanh giai đoạn 2018–2020 phản ánh sự phân hóa rõ nét giữa các mảng hàng:

  • Mảng gas rời (bồn công nghiệp): Tổng Công ty duy trì khách hàng truyền thống bằng chính sách giá bán linh hoạt kết hợp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật (lắp đặt bồn, van hóa hơi, điều áp regulator, kiểm soát an toàn tự động); phát triển khách hàng mới tại các khu công nghiệp tập trung nhằm bù đắp sản lượng sụt giảm từ các đơn vị ngừng sản xuất do dịch bệnh, thắt chặt rà soát công nợ để tránh phát sinh nợ xấu.
  • Mảng gas bình: Mặt hàng bình 12kg phục vụ tiêu dùng thiết yếu ít bị ảnh hưởng, được đẩy mạnh bán qua tổng đài trên phần mềm quản lý tại Công ty TNHH Gas Petrolimex Cần Thơ và Chi nhánh Sơn La với chi phí thuê mặt bằng thấp. Trái lại, dòng sản phẩm bình 48kg (chiếm tỷ trọng 48,5% tổng sản lượng gas bình của PGC) bị suy giảm sản lượng nghiêm trọng do chịu tác động kép từ dịch Covid-19 và quy định xử phạt vi phạm nồng độ cồn theo Nghị định 100/2019/NĐ-CP khiến khối nhà hàng, quán ăn, khách sạn sụt giảm doanh số. Doanh nghiệp phải chuyển hướng cung ứng sang khối trường học, quân đội và các đơn vị hành chính sự nghiệp ổn định hơn.

Trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan, PGC vận hành thành công việc nộp thuế điện tử, liên kết thông tin giám sát với các Chi cục Hải quan cửa khẩu nơi có kho cảng (Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ), giúp đẩy nhanh tỷ lệ thông quan các lô hàng nhập khẩu đường biển. Tuy nhiên, doanh nghiệp còn gặp một số hạn chế: áp lực chi phí lưu kho bãi, lưu tàu do chờ đợi kết quả kiểm tra chất lượng chuyên ngành từ tổ chức giám định; thủ tục giám định khối lượng LPG lỏng trên tàu khi cập cảng đòi hỏi trang thiết bị đo lường phức tạp; trình độ một số cán bộ hiện trường chưa đồng đều khi xử lý các lỗi kỹ thuật phát sinh trên hệ thống VNACCS/VCIS lúc sửa đổi tờ khai (nghiệp vụ IDB/IDA01).

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện thủ tục hải quan đối với khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu tại Tổng Công ty Gas Petrolimex - CTCP

Dựa trên phương hướng kinh doanh củng cố vị thế thương hiệu hàng đầu và giữ vững an toàn tài chính, Chương 3 đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp nội bộ cho Tổng Công ty:

  1. Nâng cao năng lực nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm thủ tục hải quan: Thường xuyên cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới (đặc biệt là các sửa đổi liên quan đến chính sách thuế XNK, quy định kiểm tra nhà nước về chất lượng khí dầu mỏ hóa lỏng); đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân loại mã HS, xác định trị giá tính thuế và vận hành thành thạo hệ thống một cửa quốc gia.
  2. Kiện toàn và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Kết hợp tuyển dụng nhân sự có chuyên môn sâu về kinh tế đối ngoại và logistics hóa chất, đồng thời tổ chức các khóa tập huấn nội bộ nhằm nâng cao kỹ năng đàm phán hợp đồng ngoại thương (điều kiện giao hàng CIF/FOB) và xử lý chứng từ vận tải biển.
  3. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục hải quan: Tích hợp dữ liệu khai báo hải quan từ hệ thống VNACCS/VCIS với hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ và phần mềm quản trị kho cảng; số hóa toàn bộ quá trình theo dõi vỏ bình, bồn chứa và thông tin lưu chuyển hàng hóa.
  4. Xây dựng chế độ khen thưởng và kỷ luật minh bạch: Thiết lập quy chế đánh giá hiệu quả công việc (KPIs) dựa trên thời gian hoàn tất thông quan, tỷ lệ tờ khai bị sai sót phải sửa đổi và mức độ tiết kiệm chi phí lưu tàu cho doanh nghiệp; có hình thức khen thưởng vật chất kịp thời cho cán bộ xử lý tốt các vướng mắc hải quan phát sinh.

Về phía cơ quan quản lý, tác giả đề xuất hai nhóm kiến nghị:

  • Đối với Nhà nước: Duy trì tính ổn định của hệ thống văn bản pháp luật về thuế và quản lý ngoại thương; xem xét điều chỉnh các chính sách thuế nhập khẩu mặt hàng LPG theo lộ trình minh bạch để doanh nghiệp chủ động lập phương án kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý kinh doanh khí hóa lỏng theo Nghị định của Chính phủ.
  • Đối với cơ quan Hải quan: Nâng cấp hạ tầng đường truyền và tính năng tự động của hệ thống VNACCS/VCIS nhằm hạn chế lỗi ngắt kết nối; mở rộng cơ chế phối hợp trực tuyến giữa cơ quan hải quan với các tổ chức giám định chất lượng được chỉ định; công khai, chuẩn hóa quy trình giải phóng hàng theo Điều 36 Luật Hải quan để tránh tình trạng kéo dài thời gian lưu tàu của doanh nghiệp nhập khẩu LPG.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu thực chứng, khóa luận tổng hợp và làm rõ các dữ kiện hoạt động của Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP:

  • Khái quát năng lực tiếp nhận của 6 kho cảng đầu mối trên toàn quốc với tổng sức chứa đạt 7.600 tấn (miền Bắc: Đình Vũ, Thượng Lý, Đức Giang đạt 3.000 tấn; miền Trung: Thọ Quang 1.000 tấn; Tây Nam Bộ: Trà Nóc 800 tấn; miền Nam: Nhà Bè).
  • Khảo sát sự dịch chuyển cơ cấu tiêu thụ sản phẩm, xác định dòng bình công nghiệp 48kg chiếm tới 48,5% sản lượng gas bình của toàn Tổng Công ty và chịu tổn thất nặng nề nhất dưới tác động kép của Nghị định 100/2019/NĐ-CP và đại dịch Covid-19 trong năm 2020.
  • Lượng hóa các thông số kỹ thuật - an toàn của mặt hàng LPG so sánh với các loại nhiên liệu truyền thống (trị số Octan, dãn nở thể tích 250 lần, nhiệt độ sôi, áp suất bão hòa trong bình từ 3 – 8 $kg/cm^2$ trong điều kiện khí hậu Việt Nam).

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, công trình nghiên cứu đã:

  • Hệ thống hóa toàn diện các bước tác nghiệp cụ thể trên hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCIS riêng cho loại hình nhập khẩu khí dầu mỏ hóa lỏng – một mặt hàng nguy hiểm, chịu sự quản lý chuyên ngành khắt khe về an toàn phòng chống cháy nổ và đo lường chất lượng nhà nước.
  • Làm rõ tính liên kết giữa thủ tục hành chính hải quan với bài toán kinh doanh logistics khí hóa lỏng, chỉ ra rằng việc rút ngắn thời gian giải phóng hàng theo Điều 36 Luật Hải quan 2014 có ý nghĩa quyết định trong việc giảm chi phí phạt lưu tàu (demurrage) tại các cầu cảng nước sâu.
  • Cung cấp bức tranh thực tế về sự thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp thông qua mô hình kinh doanh gas bán lẻ qua tổng đài phần mềm tại Cần Thơ và Sơn La trong giai đoạn thị trường biến động.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn tồn tại một số giới hạn nhất định do tác giả đề cập trong văn bản:

  • Phạm vi dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở mốc thời gian năm 2020, chưa bao quát được các biến động pháp lý và cơ chế thông quan số hóa toàn diện trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu đại dịch.
  • Đề tài tập trung nghiên cứu điển hình (case study) tại một doanh nghiệp có vốn chi phối của Nhà nước thuộc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PGC), nên các giải pháp và phân tích thực trạng chủ yếu gắn với quy mô kho cảng lớn và hệ thống phân phối sẵn có, chưa phản ánh đầy đủ đặc thù thủ tục hải quan của khối doanh nghiệp tư nhân hoặc liên doanh FDI quy mô nhỏ trong cùng ngành.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) đối với biểu thuế nhập khẩu LPG và xu hướng chuyển đổi năng lượng xanh từ LPG sang LNG (khí tự nhiên hóa lỏng) tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế và Logistics: Cung cấp tư liệu chi tiết về các bước khai báo nghiệp vụ hải quan thực tế trên hệ thống VNACCS/VCIS (từ các lệnh IDA, IDC, IDB đến CEA, CKO) gắn với một mặt hàng thương mại cụ thể.
  • Nhân viên xuất nhập khẩu và logistics tại các doanh nghiệp kinh doanh năng lượng, hóa chất: Tham khảo danh mục chứng từ bắt buộc, các căn cứ kiểm tra nhà nước về chất lượng khí theo Nghị định 74/2018/NĐ-CP và cơ chế giải phóng hàng hóa chờ xác định trị giá hải quan.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là mục 1.4 Chương 1 (hướng dẫn chi tiết từng phân đoạn khai báo phân luồng tờ khai hải quan điện tử) và mục 2.2 Chương 2 (phân tích thực tế tác động của chính sách giao thông, dịch bệnh đến cơ cấu sản lượng kinh doanh của doanh nghiệp đầu mối).

Câu hỏi thường gặp

1. Khí dầu mỏ hóa lỏng LPG nhập khẩu được phân loại vào mã HS nào trong Biểu thuế xuất nhập khẩu?
Trong hệ thống Danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu Việt Nam, LPG thuộc Phần V (Khoáng sản), Chương 27 (Nhiên liệu khoáng, dầu khoáng và các sản phẩm chưng cất từ chúng; các chất chứa bi tum; các loại sáp khoáng chất), nhóm 2711 (Khí dầu mỏ và các loại khí hydrocarbon khác), phân nhóm dạng hóa lỏng với mã HS chi tiết là 2711.19.00 (Loại khác).

2. Mặt hàng LPG nhập khẩu chịu sự quản lý chất lượng nhà nước theo phương thức nào trước khi lưu thông?
Căn cứ Nghị định số 74/2018/NĐ-CP và Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, LPG nhập khẩu phải được kiểm tra nhà nước về chất lượng theo Phương thức 7 (Thử nghiệm mẫu đại diện, đánh giá sự phù hợp của lô sản phẩm, hàng hóa đối với từng lô hàng nhập khẩu) do tổ chức thử nghiệm được Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng chỉ định thực hiện. Chứng thư giám định theo Phương thức 7 chỉ có hiệu lực đối với chính lô hàng được lấy mẫu.

3. Vì sao bình gas công nghiệp loại 48kg của Petrolimex Gas bị sụt giảm tiêu thụ mạnh trong năm 2020?
Bình gas loại 48kg chiếm tới 48,5% tổng sản lượng gas bình của PGC và đối tượng tiêu thụ chính là khối nhà hàng, quán ăn, khách sạn. Trong năm 2020, việc triển khai Nghị định số 100/2019/NĐ-CP (xử phạt nghiêm vi phạm nồng độ cồn khi tham gia giao thông) kết hợp với các đợt giãn cách xã hội do dịch Covid-19 đã khiến lượng khách ăn uống ngoài gia đình suy giảm đột ngột, dẫn tới sự sụt giảm tiêu thụ trực tiếp của dòng sản phẩm này.

4. Khi tờ khai LPG nhập khẩu rơi vào Luồng Vàng hoặc Luồng Đỏ, công chức hải quan sử dụng các nghiệp vụ nào trên hệ thống VCIS?
Công chức hải quan sử dụng nghiệp vụ VCIS để xử lý: dùng nghiệp vụ CKO để thông báo địa điểm, mức độ kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc thực hiện chuyển luồng (từ đỏ sang vàng hoặc ngược lại); dùng nghiệp vụ CEA để xác nhận hoàn thành kiểm tra hồ sơ (đối với luồng vàng) hoặc hoàn thành kiểm tra cả hồ sơ và hàng hóa thực tế (đối với luồng đỏ); sử dụng nghiệp vụ IDA01 để nhập nội dung hướng dẫn, yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi nội dung khai báo hoặc ấn định thuế.

5. Điều kiện để doanh nghiệp được giải phóng hàng hóa LPG nhập khẩu khi chưa có số thuế chính thức là gì?
Theo khoản 1 Điều 36 Luật Hải quan 2014 và Điều 33 Thông tư số 38/2015/TT-BTC, doanh nghiệp được phép giải phóng hàng hóa nếu đáp ứng hai điều kiện: hàng hóa đã đủ điều kiện xuất nhập khẩu nhưng đang trong thời gian chờ xác định trị giá hải quan/tham vấn giá; và người khai hải quan đã thực hiện nộp thuế hoặc được tổ chức tín dụng bảo lãnh số thuế trên cơ sở tự kê khai.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Phương đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với mặt hàng khí dầu mỏ hóa lỏng nhập khẩu trên nền tảng hệ thống VNACCS/VCIS. Thông qua nguồn dữ liệu thực tế tại Tổng Công ty Gas Petrolimex – CTCP giai đoạn 2018–2020, công trình đã phản ánh sát thực mối liên hệ giữa các bước tác nghiệp hải quan với mạng lưới kho cảng đầu mối và biến động tiêu thụ của thị trường khí đốt. Hệ thống giải pháp nâng cao nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin cùng các kiến nghị cải cách thủ tục chuyên ngành được xây dựng phù hợp với bối cảnh thực tiễn của doanh nghiệp và ngành Hải quan.