CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC ĐẦU TƯ THÀNH LẬP TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về thủ tục đầu tư thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1. Khái niệm về nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Dưới góc độ khoa học, theo quan điểm của một số học giả, khái niệm nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài trước khi đầu tư vào Việt Nam cũng như các chi nhánh, văn phòng đại diện (không có tư cách pháp nhân) của họ.4 Dưới góc độ so sánh luật, theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư số 02/QH của nước CHDCND Lào ban hành ngày 08/7/2009 thì nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài đến kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 88 ngày 29/12/1997 về việc thi hành Luật đầu tư của Vương quốc Campuchia thì thực thể nước ngoài có nghĩa là bất kỳ một thực thể không phải là thực thể Campuchia và không được thành lập theo pháp luật của Vương quốc Campuchia.5 Theo tác giả, việc dẫn đến nhiều cách hiểu chưa đồng nhất về nhà đầu tư nước ngoài được giải thích bởi khái niệm nhà đầu tư nước ngoài không được giải thích đồng bộ trong Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Trước đây, Luật đầu tư năm 2005 định nghĩa: Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam 6. Mặt khác, Nghị định 69/2007/NĐ-CP quy định về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân 4 Mai Hữu Đạt (2010),” Một số bất cập của pháp luật về đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam và phương hướng hoàn thiện”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Số3(263), tr.32 5 Doãn Hồng Nhung, Nguyễn Thị Lan Anh (2012), “Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam“, NXB Tư pháp, tr. 6 Khoản 5, Điều 3, Luật đầu tư năm 2005 10 hàng thương mại Việt Nam đã cụ thể hóa khái niệm nhà đầu tư nước ngoài cụ thể và rõ ràng hơn. Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 69/2007/NĐ-CP thì nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: (1) Tổ chức nước ngoài là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài và hoạt động, kinh doanh tại nước ngoài hoặc/và tại Việt Nam; (2) Cá nhân nước ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam.
Theo đó, NĐTNN chỉ là những chủ thể tham gia góp vốn để thực hiện hoạt động đầu tư, trường hợp dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhưng có thành lập pháp nhân mới thì không xem pháp nhân đó là NĐTNN, bởi vì theo quy định tại Khoản 20 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì quốc tịch của doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi doanh nghiệp thành lập, đăng kí kinh doanh. Tuy nhiên, các văn bản khác và thực tiễn đều ghi nhận những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn được xác định là NĐTNN. Cụ thể, Khoản 1 Điều 2 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây viết tắt là Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg) định nghĩa: Nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Quy chế này bao gồm tổ chức và cá nhân nước ngoài, cụ thể như sau: (1) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam; (2) Tổ chức thành lập và hoạt động ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49% ; (3) Quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49%; (4) Cá nhân nước ngoài là người không mang quốc tịch Việt Nam, cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam. Khoản 1 Điều 2 Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: (1) Cá nhân là người có quốc tịch nước ngoài cư trú tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam, bao gồm cả người gốc Việt 11 Nam có quốc tịch nước ngoài; (2) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này, bao gồm cả chi nhánh hoạt động tại Việt Nam;(3) Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này; (4) Quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và các quỹ đầu tư thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài; Như vậy, Luật đầu tư năm 2005, và các văn bản dưới luật hướng dẫn trong các lĩnh vực chuyên ngành như tài chính, ngân hàng, chứng khoán…đã có sự quy định (giải thích) không thống nhất về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài dẫn đến sự khác biệt trong cách hiểu và vận dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về khái niệm nhà đầu tư nước ngoài.
Chẳng hạn, tại thời điểm thực hiện các thủ tục đầu tư theo Luật đầu tư năm 2005, Luật dược năm 2005 quy định phân phối dược là lĩnh vực chưa cam kết, vì vậy có địa phương cho rằng chỉ cần 1% vốn đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó đã bị coi như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bị từ chối mở rộng hoạt động hay chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc7. Khắc phục được sự vướng mắc, và tính thiếu tính thống nhất này, Luật đầu tư năm 2014 trước đây và Luật đầu tư năm 2020 hiện nay đã quy định cụ thể và rõ ràng khái niệm nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài. Theo quan điểm của ban soạn thảo Luật đầu tư năm 2014 thì: Việc xác định khái niệm nhà đầu tư nước ngoài là cơ sở quan trọng để áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với pháp luật chuyên ngành và điều ước quốc tế. Tuy nhiên, khái niệm này chưa được quy định rõ trong Luật Đầu tư hiện hành nên đã gây nhiều lúng túng trong việc áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài/doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Nếu theo khái niệm quy định tại Luật Đầu tư thì có thể hiểu, doanh nghiệp đã thành lập tại Việt Nam có 1% 7 Lê Nết (2014), ”Không cần e ngại nhà đầu tư nước ngoài”, Thời báo kinh tế Sài Gòn, [https://www.vn/115505/Khong-can-e-ngai-%E2%80%9Cnha-dau-tu-nuoc ngoai%E2%80%9D.html], 12 vốn của nhà đầu tư nước ngoài cũng bị coi là nhà đầu tư nước ngoài và phải tuân thủ điều kiện đầu tư nước ngoài. Hạn chế này là nguyên nhân phát sinh hầu hết vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về điều kiện và thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài. Để phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo cơ sở pháp lý áp dụng thống nhất quy định về vấn đề này, Luật đầu tư năm 2014 quy định khái niệm nhà đầu tư nước ngoài căn cứ vào quốc tịch, nơi đăng ký thành lập của cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng như tỷ lệ sở hữu, mức độ tham gia quản lý của tổ chức, cá nhân nước ngoài trong doanh nghiệp đã thành lập tại Việt Nam. Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài bao gồm: (i) tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc đăng ký thành lập ở nước ngoài; (ii) doanh nghiệp đã thành lập tại Việt Nam có phần vốn góp của tổ chức, cá nhân nước ngoài với tỷ lệ từ 50% vốn điều lệ trở lên hoặc có 50% tổng số thành viên trở lên là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc công ty TNHH, công ty hợp danh có thành viên là cá nhân nước ngoài.8 Do đó, tại khoản 14, Điều 3 Luật đầu tư năm 2014 thì nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về Nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Kế thừa quy định trên của Luật đầu tư năm 2014 thì hiện nay tại Theo quy định tại Khoản 19 Điều 3 Luật đầu tư năm 2020 thì nhà làm luật tiếp tục quy định về Nhà đầu tư nước ngoài được hiểu là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Đồng thời, tại Khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư năm 2020 quy định đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Như vậy, từ các phân tích trên có thể hiểu nhà đầu tư nước ngoài được hiểu bao gồm các cá nhân (thể nhân) nước ngoài hoặc tổ chức nước ngoài (pháp nhân, phi pháp nhân) thực hiện các hoạt động kinh doanh như thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư 8 Bộ Kế hoạch và đầu tư (2014), Tờ trình về dự án Luật Đầu tư (sửa đổi), Hà Nội 13 góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác đầu tư tại Việt Nam 1. Khái niệm và mục đích thành lập tổ chức kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong khoa học luật, thành lập doanh nghiệp được hiểu là việc ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của doanh nghiệp.