CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI THU HÚT FDI TỪ ASEAN VÀO CÁC NGÀNH DỊCH VỤ TẠI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP AEC Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nội dung quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và trên thế giới. Các đề tài nghiên cứu liên quan đến FDI rất đa dạng, trong đó phân tích thực trạng và các yếu tố tác động đến thu hút FDI vào một hoặc một nhóm các quốc gia và khu vực là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu khai thác. Bên cạnh những nghiên cứu đề cập đến thu hút FDI từ góc độ tiếp cận tổng thể toàn bộ nền kinh tế, có rất nhiều công trình đã tập trung vào một ngành hoặc lĩnh vực cụ thể. Liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án, hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về mặt lý thuyết cũng như thực nghiệm đánh giá quá trình hội nhập của các quốc gia ASEAN trong Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), các yếu tố thu hút FDI nói chung và FDI vào ngành dịch vụ nói riêng.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến hội nhập của Việt Nam trong AEC Hiện thực hoá AEC đã tạo ra một thị trường chung và kết nối nền kinh tế của các quốc gia thành viên thành một khối sản xuất, thương mại và đầu tư thống nhất. Vì tính cấp thiết cũng như vai trò to lớn của liên kết khu vực đối với sự phát triển và hội nhập của các quốc gia thành viên, AEC là một trong những chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan tâm và thực tiễn đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề này. Các nghiên cứu cơ bản tập trung vào một số hướng sau đây: 1. Các nghiên cứu chung về tiến trình hình thành – hội nhập AEC Nghiên cứu về tiến trình hình thành và hội nhập AEC tương đối phổ biến trong thời điểm trước năm 2015 – mốc thời gian đánh dấu việc thành lập chính thức của AEC.
Các nghiên cứu này chủ yếu phân tích bối cảnh hình thành AEC và chỉ ra những tiềm năng cũng như thách thức đối với quá trình hiện thực hoá AEC. Nhóm nội dung nghiên cứu thứ nhất tập trung mô tả các cam kết chung của AEC trong tất cả các lĩnh vực; trình bày bối cảnh, lộ trình hình thành AEC và đánh giá tác động của AEC đến các quốc gia thành viên. Nội dung này được khai thác trong rất nhiều nghiên cứu, tiêu biểu là các báo cáo của ASEAN, ADB và nghiên cứu của các tổ chức liên quan. Với cách tiếp cận vĩ mô, bằng phương pháp chủ yếu là so sánh và tổng hợp, các báo cáo của ASEAN và The ASEAN Secretariat đã cung cấp một cách chi tiết các thông tin cơ bản về AEC, sự tham gia của các quốc gia thành viên, lộ trình thực hiện các cam kết và các thành tựu đã đạt được (The ASEAN Secretariat & World Bank, 2013).
Trong khi đó, tập luan an 8 hợp các nghiên cứu của ADB, Viện nghiên cứu ASEAN và Đông Á (ERIA) đã tổng kết lại quá trình hội nhập của ASEAN; cơ sở lý luận, tiến trình và những hạn chế của AEC cũng như triển vọng sau năm 2015; đánh giá giữa kỳ việc thực hiện kế hoạch chi tiết của AEC và tác động của việc thực hiện cam kết đến các quốc gia thành viên (ADB, 2013; ERIA 2012). Petri và cộng sự (2012) đã phân tích tác động của AEC đối với nền kinh tế của các nước tham gia thông qua mô hình Cân bằng Tổng thể Khả toán (Computable General Equilibrium – CGE) với các viễn cảnh khác nhau nhằm đánh giá tác động của các thành phần khác nhau trong AEC đến lợi ích kinh tế tổng thể của mỗi quốc gia thành viên. Với các kịch bản khác nhau xem xét các hình thức hội nhập kinh tế và thương mại của ASEAN với các quốc gia và khu vực khác, nghiên cứu khẳng định mục tiêu quan trọng của AEC là làm cho khu vực ASEAN trở thành một đối tác hấp dẫn, đồng thời khẳng định lợi ích này sẽ được hiện thực hoá nếu như ASEAN thực hiện ký kết các FTA bổ sung. Tại Việt Nam, nhiều tác giả cũng đã có nghiên cứu về AEC, trong đó hai nghiên cứu tiêu biểu là nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn (2009) và Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2015a) đã cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình hình thành AEC, đặc biệt là sự tham gia của Việt Nam vào AEC.
Hai nghiên cứu cũng cụ thể hoá mục tiêu, biện pháp và lộ trình thực hiện AEC, tác động của hội nhập kinh tế khu vực tới tổng thể nền kinh tế ASEAN và từng nền kinh tế thành viên. Đồng thời, các tác giả đã trình bày và phân tích chi tiết từ bối cảnh quốc tế đến lộ trình và nội dung thực hiện các cam kết, cũng như thực tiễn kinh nghiệm hội nhập của một số khu vực trên thế giới khác như EU, NAFTA, MERCOSUR.và chỉ ra những cơ hội – thách thức mà AEC phải đối mặt trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động. Nhóm nội dung nghiên cứu thứ hai tập trung tìm hiểu những thách thức của quá trình hình thành và hiện thực hoá AEC trên phạm vi tổng thể, cũng như triển vọng của AEC. Mặc dù, cách thức tiếp cận của các công trình này khác nhau, kết quả của các nghiên cứu có nhiều điểm chung trong nhận định các thách thức chính của quá trình hiện thực hoá AEC, cụ thể là (i) sự chênh lệch phát triển giữa các nước thành viên; (ii) thị trường bị chia cắt nghiêm trọng; (iii) tính toán lợi ích quốc gia khác nhau của các thành viên ASEAN gây khó khăn cho tiến trình hội nhập; (iv) hạn chế về năng lực thực hiện các cam kết của các nước thành viên và (v) chủ nghĩa bảo hộ của các quốc gia vẫn mạnh và có xu hướng gia tăng.
Ngoài ra, các nghiên cứu điển hình trong nhóm này cũng chỉ ra được một số kết quả nổi bật khác: Tập hợp các nghiên cứu của ADB và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Yusof Ishak đã chỉ ra những thách thức trong việc hình thành AEC từ nhiều khía cạnh, bao gồm các rào cản phi thuế quan, cạnh tranh và vấn đề sở hữu trí tuệ, môi trường đầu luan an 9 tư, vai trò của Nhà nước, vấn đề giải quyết tranh chấp. Các chuyên gia cho rằng, triển vọng về AEC 2015 là rất khó thực hiện – tầm nhìn của ASEAN về việc tạo ra một cộng đồng kinh tế được đánh dấu bằng dòng chảy tự do của hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động có kỹ năng là quá tham vọng và khó có thể áp dụng được do những đối lập trong quan điểm chính trị và khác biệt thể chế của các quốc gia thành viên. Vì vậy, để hiện thực hoá AEC 2015, không chỉ Chính phủ các quốc gia ASEAN mà các doanh nghiệp, các tổ chức phi lợi nhuận cần thực sự nghiêm túc với kế hoạch đã đề ra (ADB & ISEAS-Yusof Ishak, 2013). Cũng cùng nhận định này, tác giả Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Thị Mai (2014) cho rằng AEC khó có thể thực hiện theo đúng lộ trình.
Thông qua việc tiếp cận theo hướng đánh giá khả năng xây dựng AEC dựa trên biểu đánh giá AEC (AEC scorecard), nhóm nghiên cứu nhận định nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này vẫn là do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các quốc gia về mức độ mở cửa thị trường, thu nhập bình quân, cơ cấu kinh tế và một số yếu tố khác. Tác giả Hoàng Thị Thanh Nhàn và Võ Xuân Vinh (2013) cũng nhận định quá trình hình thành AEC còn phải giải quyết nhiều khó khăn, đặc biệt là do chênh lệch giữa thương mại và đầu tư ngoại khối so với nội khối. Đầu tư nội khối ASEAN hiện đóng vai trò khiêm tốn hơn nhiều so với thương mại và đầu tư với các đối tác bên ngoài. Sự phụ thuộc vào bên ngoài, theo các tác giả, dễ dẫn đến chệch hướng hội nhập và các nguồn lực khó được huy động tập trung để giải quyết đòi hỏi từ bên trong ASEAN.
Vì vậy, để hiện thực hoá AEC 2015 đòi hỏi sự nghiêm túc thực hiện của tất cả các quốc gia thành viên ASEAN. Sau khi AEC chính thức được thành lập, một số nghiên cứu đã tóm lược các hoạt động liên quan đến thực tiễn triển khai các cam kết trong AEC kể từ năm 2015. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà (2017) cho thấy ASEAN đã thông qua nhiều chính sách và biện pháp mới, tiếp tục cắt giảm thuế quan (nhưng không nhiều), thực hiện các sáng kiến như tự cấp chứng chỉ mẫu ATIGA điện tử, các giải pháp ASEAN với đầu tư – dịch vụ - thương mại (ASSIST), triển khai hệ thống quá cảnh hải quan ASEAN (ACTS), thông qua Hiệp định khung về Tạo thuận lợi cho hàng hoá quá cảnh (AFAFGIT). Đối với việc triển khai ACIA, các nước thành viên tiếp tục cải cách thủ tục đầu tư, nâng cao tính minh bạch và thực hiện tự do hoá hơn nữa.
Về ngành dịch vụ, sau khi ký kết thực hiện gói cam kết thứ 9 của AFAS, ASEAN cũng đang hướng tới ký kết gói thứ 10 để hoàn tất AFAS. Tuy vậy, việc xây dựng AEC cũng gặp không ít những thách thức trong việc hiện thực hoá các nội dung cam kết do sự mức độ chênh lệch về phát triển và sự khác biệt giữa các quốc gia, nội dung chương trình vẫn nặng về lý thuyết và không có kế hoạch hành động cụ thể, sự liên kết còn yếu kém. Nghiên cứu đi tới khẳng định con đường đưa ASEAN trở thành một cộng đồng kinh luan an 10 tế thực sự là một mục tiêu và nhiệm vụ còn nhiều thách thức. Cùng đánh giá các cơ hội và thách thức cho AEC trong tương lại, chuỗi 10 bài nghiên cứu của ERIA (2017) đã xem xét đa dạng các vấn đề có liên quan – từ tạo thuận lợi thương mại, đến các biện pháp phi thuế quan, các ngành dịch vụ, sự kết nối, hội nhập tài chính, thực hành quản lý tốt.
và tác động của bối cảnh thế giới đến quá trình xây dựng AEC. Tập hợp nghiên cứu khẳng định tất cả các vấn đề trong việc xây dựng AEC vẫn “đang trong quá trình xử lý” và các quốc gia cần nỗ lực hơn nữa nếu muốn đạt được những mục tiêu đã đề ra của AEC 2025, đồng thời đưa ra triển vọng và những khuyến nghị hỗ trợ các quốc gia ASEAN đạt được khả năng này vào năm 2025 và 2035.