Chương 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Chương 2: Một số phương diện nội dung thơ Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly. Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thơ Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly 6 NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài 1.
Khái niệm thơ trẻ Thơ trẻ có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo tiêu chí chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về thơ trẻ. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi dùng khái niệm thơ trẻ để chỉ những tác giả có tuổi đời trẻ (chủ yếu trên dưới ba mươi khi công bố các tập thơ của mình) và đặc biệt có cách nhìn, cách cảm, cách tư duy mới mẻ, hiện đại và trẻ trung. Điều này được thể hiện trong những tập thơ đã xuất bản của họ trên thi đàn. Ba nhà thơ chúng tôi nghiên cứu là: Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị Hương Ly đều là những nhà thơ trẻ khi tác phẩm của họ được xuất bản khi họ ở độ tuổi trên dưới ba mươi.
Các tập thơ mà chúng tôi sử dụng làm đối tượng nghiên cứu của ba tác giả này đều xuất bản khi họ còn rất trẻ. Đó là: Quả Nhung - 2006, Tềnh pù (Trên núi) - 2007 -Thơ song ngữ Tày- Việt, Vạt sáng trăng rằm (thơ), Hằn sâu trên đá (trường ca) - 2011, của Nông Thị Tô Hường; Đi qua tôi thật chậm (thơ) - 2013 của Phùng Thị Hương Ly; Gọi ngày xuống núi (thơ) - 2008, Mỉnh hai (Vía trăng) - 2019 của Hoàng Chiến Thắng. Họ đã đóng góp cho dòng chảy thơ dân tộc thiểu số hiện đại một tiếng nói trẻ trung, sôi nổi, đầy nhiệt huyết và một góc nhìn trẻ trung, hiện đại. Những nhà thơ dân tộc thiểu số này đã có cách nhìn, cách cảm đời sống bằng con mắt trẻ trung của những tri thức trẻ miền núi.
Chính vì vậy, thơ của họ có nét mới mẻ, thể hiện một góc nhìn riêng của lớp thi sĩ thuộc thế hệ thứ ba trong dòng chảy văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Không chỉ vậy, thơ họ còn tiêu biểu cho tiếng nói của các tác giả trẻ trong văn học địa phương Bắc Kạn. Văn học địa phương Bắc Kạn đã có một bề dầy truyền thống từ những thế hệ đi tiên phong như: Nông Quốc Chấn, Nông Viết Toại, tiếp đến là thế hệ thứ hai như: Dương Thuấn, Dương Khâu Luông và thế hệ thứ ba chính là những tác giả trẻ: Nông Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng và Phùng Thị 7 Hương Ly. Họ đã tiếp nối và phát triển thơ Bắc Kạn đạt được những thành tựu mới đáng ghi nhận.
Khái niệm văn học địa phương Khái niệm văn học địa phương cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu. Theo tác giả Bùi Thanh Truyền: Văn học địa phương là các sáng tác ngôn từ mang dấu ấn riêng của từng vùng miền trên đất nước Việt Nam. Trong định nghĩa của mình, tác giả Ngọc Trân lại nhấn mạnh người sáng tác gắn với nơi sinh sống và nội dung phản ánh: “Văn học địa phương được hiểu là những sáng tác văn học của các tác giả trong một khu vực địa lý cụ thể. Nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc riêng, độc đáo, có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương đó” [47].
TS Đỗ Việt Hùng- Đại học sư Phạm Hà Nội, khái niệm địa phương cần được hiểu một cách rộng rãi.“Địa phương là thôn xã cụ thể, nhưng cũng có thể là huyện thị, tỉnh, thành phố thậm chí là các vùng miền lớn hơn”.Trong bài báo cáo tại Hội thảo khoa học quốc tế Teacher Traning Curriculum Development - Opprtunities and Challenges,PGS. Cao Thị Hảo - Đại học sư phạm Thái Nguyên định nghĩa: Văn học địa phương là những sáng tác văn học của các tác giả trong một khu vực địa lý cụ thể. Nó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư ở một địa bàn cư trú nhất định và mang bản sắc riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng, miền, địa phương đó [10]. Từ những khái niệm trên có thể khẳng định: Văn học địa phương là những sáng tác văn học cá nhân của các tác giả trong một địa phương, vùng, miền cụ thể.
Những sáng tác đó phản ánh đời sống văn hóa tinh thần và mang bản sắc riêng, độc đáo có tính chất đặc thù của vùng dân cư đó. Vị trí và đặc trưng của văn học địa phương Văn học địa phương có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa- xã hội ở mỗi địa phương. Các tác phẩm văn học địa phương phản ánh đời sống tinh thần, tình cảm của người dân miền núi, góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Mỗi tác phẩm sẽ mang theo những tên đất, tên làng, những hình ảnh thiên nhiên vùng miền rất đỗi thân quen đối với bạn đọc tại địa phương.
Mỗi nhà văn, nhà 8 thơ bao giờ cũng thuộc về một dân tộc, một nền văn hoá nhất định.Vì thế, họ sẽ truyền tải trong tác phẩm của mình những truyền thống văn hóa của dân tộc. Thông qua ngôn ngữ của văn chương, các lễ hội, phong tục tập quán, đời sống của con người với những nét đặc trưng riêng sẽ được hiện lên một cách đầy đủ và sống động trong tâm hồn bạn đọc. Do đó, văn học địa phương có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân địa phương, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bởi vậy, văn học địa phương càng có vị trí quan trọng trong nhà trường.
Đó là nguồn cấp vốn tri thức văn học địa phương cho học sinh, qua đó khơi gợi trong các em niềm yêu mến, trân trọng và đam mê, hứng thú, tìm hiểu, khám phá vốn văn học của quê hương, cũng là việc làm cần kíp nhằm hình thành ở các em lòng yêu nước, quý trọng truyền thống văn hóa, lòng tự hào dân tộc. Bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh, ngữ liệu văn học địa phương dễ đi vào thế giới tâm hồn của người học, nhen lên trong đối tượng này những tình cảm trong sáng, nhân hậu, làm cho các em thêm tin yêu cuộc đời, ước mơ đi đến những miền đất thanh bình, giàu đẹp, từ đó hình thành ý thức phấn đấu học tập để trở thành chủ nhân tương lai của đất nước. Việc khám phá những địa danh thông qua các bài thơ mang đến cho các em những tri thức mới, không khô khan mà nhẹ nhàng, thú vị nhờ được chuyển tải bằng những hình ảnh thấm đẫm chất thơ. Thông qua những tác phẩm văn học địa phương, những truyền thống văn hóa của dân tộc dễ đi vào tâm hồn tình cảm của học sinh, góp phần hoàn thiện nhân cách.
Trong Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của chính phủ (tháng 10/2014) đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm, những hạn chế của chương trình giáo dục hiện hành là: “Một trong những hạn chế cơ bản của chương trình hiện hành là chưa giải quyết hài hòa giữa yêu cầu và điều kiện chung của toàn quốc với yêu cầu và điều kiện riêng của mỗi địa phương, nhà trường”…Điều này dẫn đến “chưa khuyến khích được sự tự chủ, tính năng động, sáng tạo của các địa phương, cơ sở giáo dục; chưa phát huy được sở trường của mỗi học sinh”. Ý thức được điều đó, trong định hướng đổi mới giáo dục hiện nay, chương trình giáo dục đã có tính mở và chú trọng đến tính vùng, miền và đặc thù của địa phương. Cụ thể, đề án cũng chỉ rõ: một trong những vấn đề cơ bản trong nội dung đổi mới chương trình sách giáo khoa của chính phủ là: “Quản lý quá trình xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo tính khả thi, linh hoạt, phù hợp địa phương và đối tượng học sinh”. 9 Theo định hướng của Bộ GD-ĐT, giáo dục địa phương đang dần được khẳng định vị thế khi một số môn KHXH đã gắn liền với văn chương, lịch sử, địa lý tại nơi người học sinh sống và cư trú.
Theo dòng chảy của tri thức, giáo dục địa phương đang tìm về cội nguồn phát tích những tinh hoa quý báu mà một vùng đất đã lưu giữ từ mấy trăm năm về trước. Ngày 26 tháng 12 năm 2018, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, kèm theo đó là chương trình Giáo dục phổ thông- chương trình tổng thể. Trong chương trình giáo dục ban hành, trong kế hoạch giáo dục của cấp THCS, THPT có nội dung giáo dục địa phương là 35 tiết, và Tiếng dân tộc thiểu số( tự chọn) là 105 tiết ở tất cả các lớp từ lớp 6 đến lớp 12. Chương trình giáo dục phổ thông thực hiện mục tiêu giáo dục hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh thông qua các nội dung giáo dục ngôn ngữ và văn học, giáo dục toán học, giáo dục khoa học xã hội, giáo dục khoa học tự nhiên, giáo dục công nghệ, giáo dục tin học, giáo dục công dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, giáo dục nghệ thuật, giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp.
Trong giáo dục ngôn ngữ và văn học thì giáo dục ngôn ngữ được thực hiện ở tất cả các môn học, trong đó môn Ngữ văn, ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số giữ vai trò chủ đao. Còn giáo dục văn học thì chủ yếu thông qua môn Ngữ văn, trong đó có các tác phẩm văn học trong chương trình giáo dục địa phương. Như vậy là, trong chương trình đổi mới tới đây, vai trò của văn học địa phương là vô cùng quan trọng. Các tác phẩm văn học sẽ là một phần không thể thiếu trong nội dung giáo dục địa phương, đồng thời, các tác phẩm song ngữ hoặc được viết bằng tiếng dân tộc sẽ là những ngữ liệu quan trọng để dạy tiếng dân tộc cho học sinh.
Văn học địa phương có những đặc trưng riêng. Bởi vây, việc dạy học văn học địa phương cần chú đến đến các đặc trưng đó. Văn học địa phương gắn với một “vùng văn hóa” cụ thể, mang đặc điểm tự nhiên, xã hội đặc trưng mang tính vùng miền. Thông qua các tác phẩm văn học, cần cho học sinh thấy được nét riêng, độc đáo của vùng đất mình, quê hương mình.