ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay Việt Nam đang bước vào tiến trình hội nhập toàn cầu với lộ trình là đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với sự phát triển của khoa hoc kỹ thuật là sự phát huy trí tuệ tài năng của con người hướng vào việc tìm kiếm những kiến thức phục vụ cho nền công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một nước có nền kinh tế kém phát triển thành một nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực cũng như trên trường quốc tế, vững bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện tốt mục tiêu “Dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, việc tự động hoá là vấn đề cấp thiết đối với tất cả các ngành sản xuất nói chung và các ngành sản xuất lâm nghiệp nói riêng. Trong thời điểm kinh tế thị trường hiện nay, việc cạnh tranh hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào giá cả và chất lượng sản phẩm.
Vì thế muốn có được chỗ đứng trên thị trường hiện nay, thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động bằng cách áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã trở thành xu hướng tất yếu đối với tất cả các ngành. Nắm bắt được tình hình các doanh nghiệp Việt Nam đã áp dụng những thành tựu đó vào sản xuất (mặc dù chưa áp dụng triệt để). Nhưng chính việc này đã tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn. Theo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, trong tháng 1/2008, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 280,9 triệu USD, tăng 7,5% so với tháng trước và tăng 24,1% so với cùng kỳ năm 2007 (tại cùng một thời điểm thì năm sau tăng so năm trước).
Trong tháng đầu của năm 2008, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tới hầu hết các thị trường chính (trừ thị trường Nhật Bản và Đài Loan) đều tăng, trong đó đáng chú ý nhất là xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam vào một số thị trường trong khối EU đã tăng khá mạnh, cụ thể là: Xuất khẩu vào thị trường Anh đạt 25,7 triệu USD, tăng 30,18%; Đức đạt 19,9 triệu USD, tăng 61,52%; Pháp đạt 17,8 triệu USD, tăng 32,45%; Hà Lan đạt 9,7 triệu 3 USD, tăng 55,38%; Italia đạt 7,6 triệu USD, tăng 68,12%; Tây Ban Nha đạt 6,5 triệu USD, tăng 64,52%; Đan Mạch đạt 3,3 triệu USD, tăng 29,78%; Phần Lan đạt 3,2 triệu USD, tăng 34,98%; Thuỵ Điển đạt 3,2 triệu USD, tăng 61,78%; Ai Len đạt 2,8 triệu USD, tăng 32,26%. Kim ngạch xuất khẩu gỗ & sản phẩm gỗ của Việt Nam qua các tháng (106USD) 300 250 200 2006 150 2007 100 2008 50 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Trong ngành kỹ thuật nói chung thì ngành tự động hoá đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật. Kỹ thuật tự động được ứng dụng vào sản xuất trong những điều kiện khắc nghiệt nhưng vẫn đạt được độ chính xác cao. Vì tự động hoá là quá trình tác động lên đối tượng theo một chương trình xác định mà không cần có sự tham gia trực tiếp của con người.
Muốn thay đổi hoạt động của nó con người chỉ cần tác động vào chương trình và làm thay đổi chương trình thì cả hệ thống sẽ làm việc theo chương trình mới. Nhưng tính năng nổi bật là sự làm việc mềm dẻo, khả năng mở rộng ứng dụng, độ tin cậy và tốc độ xử lý cao. Vì thế mà các hệ thống tự động tiên tiến đã nhanh chóng được ứng dụng vào các ngành sản xuất không chỉ một quốc gia nào mà trên quy mô toàn cầu. Ngành chế biến gỗ trong những năm gần đây đã ứng dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến, máy móc thiết bị hiện đại vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và giảm công việc nặng nhọc cho con người.
Nhưng việc ứng dụng kỹ thuật, máy móc thiết bị hiện đại vẫn còn bị hạn chế, thiết bị máy móc, các khâu công nghệ còn nhiều tồn tại, áp dụng không đúng quy trình kỹ thuật. Dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm không cao, không có tính cạnh tranh nhiều trên thị trường, đặc biệt là trên trường quốc tế. Vì thế chưa cải 4 thiện được nhiều điều kiện làm việc của con người và năng suất lao động chưa cao theo đúng nghĩa của nó. Đối với việc điều chỉnh nhiệt độ và thời gian ép của máy uốn-ép gỗ hiện nay ở nước ta cũng như tại công ty cổ phần nội thất xuất khẩu Shinec vẫn còn sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, với dụng cụ lao động còn đơn giản và thô sơ.
Từ đó việc điều chỉnh nhiệt độ và thời gian còn gặp nhiều khó khăn. Để khắc phục khó khăn trên, giải pháp đưa ra kinh tế hiện nay là áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, lựa chọn hệ thống điều chỉnh trên cơ sở tích hợp hệ thống, ứng dụng các rơle thời gian và cảm biến nhiệt độ để tự động hoá các quá trình làm việc này. Để phục vụ tốt hơn cho việc điều khiển nhiệt độ và thời gian ép thì ta phải tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu thực tế đặt ra cho quá trình điều khiển. Đối với mỗi loại gỗ thì phương pháp cũng phải khác nhau.
Từ những yêu cầu về kỹ thuật điều khiển chúng ta xây dựng hệ thống điều khiển nhờ ứng dụng kỹ thuật tự động. Hệ thống được xây dựng với mục tiêu là điều khiển nhiệt độ và thời gian ép cho máy uốn-ép gỗ, thực hiện tốt các chế độ điều khiển mức độ nhiệt khác nhau trong từng điều kiện cụ thể. Đứng trước vấn đề cấp thiết và thời sự đó tôi tiến hành thực hiện khóa luận: “Thiết kế hệ thống tự động điều chỉnh nhiệt độ và thời gian ép của máy uốn-ép gỗ tại công ty sản xuất nội thất Shinec - Hải Phòng”. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng vào thực tế, góp phần cải thiện điều kiện lao động, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cũng như trình độ công nghệ của các cở sở sản xuất.
5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Công nghệ và thiết bị trên thế giới Trong thời đại hiện nay, cùng với xu hướng toàn cầu hoá, khoa học công nghệ không ngừng phát triển, nó tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Cùng với nó là sự ra đời của ngành tự động hoá đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ngành, nâng cao năng xuất, chất lượng sản phẩm, đồng thời cải thiện điều kiện lao động của con người. Sự ra đời của ngành tự động hoá đã đáp ứng được yêu cầu và su thế hội nhập, phát triển chung của toàn cầu.
Song song với nó là sự xuất hiện của các công nghệ và thiết bị mới. Chính sự có mặt của các thiết bị công nghệ này đã thúc đẩy xu hướng phát triển chung của ngành tự động hoá. Có thể tổng hợp quá trình phát triển của cộng nghệ và thiết bị như sau: Bảng 1. Các giai đoạn phát triển cơ bản của tự động hóa quá trình sản xuất Các giai đoạn Đặc điểm đặc trưng Ví dụ Thời điểm xuất hiện Cơ khí hóa Thay thế lao động cơ bắp Động cơ máy 1775 của con người bằng máy tiện, băng tải Tự động hóa Thay thế công việc điều NC, CNC, 1956 – 1960 từng phần khiển thiết bị của công nhân MRP bằng máy Tự động hóa Sản xuất tự động hóa tích MRPH, FMS, 1970 - 1975 ở mức độ cao hợp có tính đến môi trường CAD, CAM của từng phần riêng biệt Sản xuất tích Trên cơ sở tự động hóa với Nhà máy tự 1985 – 1990 hợp sự trợ giúp của các hệ thống động hóa hoàn máy tính để thực hiện các toàn và nhà quá trình sản xuất tích hợp máy tương lai 6 Đối với ngành chế biến gỗ nói chung và uốn-ép gỗ nói riêng thì việc áp dụng tự động hoá cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển đó.
Các công nghệ và thiết bị đã được áp dụng rất sớm và rộng rãi trong ngành và đã đạt được những thành công nhất định trên nhiều quy mô. Trên thế giới hiện nay, việc áp dụng các công nghệ mới vào sản xuất chế biến gỗ rất phổ biến ở rất nhiều nước trên thế giới, không chỉ ở các nước có nền công nghiệp hiện đại mà còn ở nhiều nước khác. Tự động hoá, công nghệ và thiết bị tại Việt Nam Những năm gần đây, mặc dù ngành công nghệ tự động hoá (TĐH) đã gặt hái được nhiều thành công, song nhìn vào thực tế, những gì ngành tự động hoá đạt được chưa thể đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong những năm tới. Bên cạnh những ưu điểm, những thuận lợi, ngành tự động hoá vẫn còn tồn đọng nhiều khó khăn và bất cập.
Đi tìm hướng phát triển cho ngành tự động hoá của Việt Nam trong tương lai, chúng ta cần có một cái nhìn mạnh dạn vào chính những bất cập, những hạn chế, để tìm ra hướng khắc phục. Đó mới là con đường nhanh nhất, đưa con thuyền Tự động hoá Việt Nam hội nhập với xu thế toàn cầu hoá của nhân loại. Khó khăn Thực tế cho thấy, nguồn nhân lực phục vụ cho ngành khoa học công nghệ nói chung và ngành tự động hóa nói riêng không thiếu, song người làm được việc không nhiều. Đây chính là căn bệnh không chỉ của ngành tự động hoá, mà còn của toàn bộ nền công nghiệp Việt Nam.
Nguyên nhân chủ yếu là do chất lượng đào tạo chưa tốt và trình độ kĩ thuật chưa cao. Riêng với ngành tự động hoá, mặc dù đã được nâng cao, nhưng ngay từ khâu đào tạo vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập: Giáo trình ít và lạc hậu, sự chồng chéo giữa các môn học, sự thiếu hợp lý giữa đào tạo chuyên sâu và đào tạo cơ bản, nặng về lý thuyết, thiếu tính thực hành. Hệ quả của chất lượng đào tạo chưa tốt, chưa sát với yêu cầu thực tế là tình trạng sinh viên ra trường không đáp ứng nổi yêu cầu của các nhà tuyển dụng. Việc “ đào tạo lại” là chuyện có thật ở đa số các doanh 7 nghiệp.
Đơn cử rất nhiều sinh viên khi ra trường có thể lập trình tốt cho PLC, lập trình tốt với một ngôn ngữ bậc cao như C++ , visual Basic, Gava. nhưng lại không thể thiết lập được luật điều khiển PID (chưa kể nhiều người còn không biết ngôn ngữ lập trình nào) .