CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Cấu tạo, cấu trúc máy in (công nghệ in) Máy in công nghiệp được sử dụng rộng rãi hiện nay. Cấu tạo của máy in được mô tả một cách đơn giản bao gồm đầu in gắn trên ụ chuyển qua lại theo phương X, toàn bộ phần thiết bị chuyển động theo phương X được gắn trên phần chuyển động qua lại theo phương Y. B ng cách điều khiển các chuyển động theo các phương X và Y bám theo các quỹ xác định, đầu in s v ra một hình theo mong muốn trên mặt phẳng.
Mô hình toán máy in theo 1 phương Cấu trúc thực nghiệm của máy in có dạng như (Hình 1. Công tắc Con trượt Động cơ và hành trình bánh răng Bộ nguồn Cầu H Adrunio board HÌNH1. 1: Cấu tr c thực nghiệm máy in Để xác định được mô hình toán học của hệ thống, trong tính toán, khi bỏ qua những thành phần phi tuyến của lực ma sát trên phần tử giảm chấn, nếu coi dây curoa nối giữa động cơ và ụ trượt là cứng và bỏ qua khối lượng rôto, khung là vững chắc thì đối tượng s được biểu diễn dưới dạng mô hình toán học như ( nh 1.2), và có dạng là một khâu bậc 2 tuyến tính được biểu diễn b ng hệ phương trình trạng thái trong biểu thức (1. Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ 4 Km Dòng điện động cơ Hệ số động cơ F m Động cơ Tải Sensor Bộ giảm chấn p HÌNH1.
2: Mô hình toán bậc hai x Ax Bu (1.1) y Cx Du vL d 0 vL k m m m F (1.3) xL d km 0 10 0 19 Với: Ac 2 m , Bc 2 m (1.5) Khi nói đến ma sát phi tuyến của Damper thì: d d k vL 0 vL c sign(vL ) m x m m xL m F (1.6) L 0 1 0 0 - Các kí hiệu viết tắt được giải thích trong Bảng 1.1: vL Trạng thái 1: Vận tốc của ụ trượt d Thông số viscous của Damper xL Trạng thái 2: Vị trí của ụ trượt m Khối lượng của ụ trượt F Lực tác dụng lên quá trình km H ng số động cơ dc Thông số Coulomb của Damper Bảng1.1: Giải thích các biến và các thông số sử dụng trong các công thức (1.6) Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www. Các yếu tố gây ra chuyển động thiếu chính xác cho hệ thống máy in Các nhiễu lặp và bất định đối tượng trong các hệ thống chuyển động điện cơ (máy in): Một hệ thống chuyển động điện cơ (Hình 1.3) là một đối tượng cơ khí hoạt động b ng điện mà yêu cầu điều khiển vị trí của cơ cấu tác động cuối cùng [4]. Bộ tạo quỹ đạo chỉ ra một quỹ đạo mong muốn cho cơ cấu tác động cuối. Các động cơ điện được sử dụng có thể là AC hoặc DC, quay hoặc tuyến tính.
Các thành phần cơ khí để truyền chuyển động của động cơ điện tới cơ cấu tác động cuối bao gồm: các trục, các bánh răng, các dây đai, các liên kết, các vòng bi quay, v.v … Đối tượng điện cơ Bộ phát tín Hệ thống Cơ cấu Hàm truyền Cơ cấu tác hiệu mẫu điều khiển tác động động cuối HÌNH 1. 3: Hệ thống chuyển động điện cơ Việc sử dụng phản hồi để tạo ra một hệ thống vòng lặp kín ổn định đòi hỏi việc sử dụng các cảm biến phù hợp để cung cấp các thông tin cần thiết về quá trình. Các cảm biến này thường được đặt ở thiết bị truyền động hoặc cơ cấu tác động cuối. Với cấu tr c này, hạn chế cho thiết kế một hệ thống điều khiển như nhiễu lặp trong đối tượng, bất định mô hình, và nhiễu đo lường là không thể tránh khỏi.
Rất khó để điều khiển hệ thống này với phản hồi đơn để có được hiệu suất cao và bền vững. Những thách thức này là một trong những lý do chính để sử dụng bộ điều khiển nâng cao. Các nhiễu lặp cho đối tượng Một điều khiển chuyển động sử dụng động cơ điện có thể được mô tả bởi một mô hình mô phỏng đơn giản được thể hiện trong (hình 1. Đối tượng luôn luôn là đối tượng bị nhiễu.
Trong trường hợp động cơ tuyến tính kích thích b ng nam châm vĩnh cửu. Do đó, các nhiễu này có thể được xem như là một hàm trạng thái Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ 6 của đối tượng và ch ng có thể có một đặc tính tái sinh - điều này có nghĩa là các nhiễu lặp đi lặp lại xuất hiện theo cách tương tự khi một chuyển động cụ thể được lặp lại. Lực ma sát được tác dụng theo hướng chống lại chuyển động, ma sát thường tiêu tốn năng lượng. Như đã giải thích trong [7], ma sát có thể được mô hình như một nhiễu phụ thuộc vận tốc, là tự nhiên đối với hầu hết các hệ thống chuyển động.
Ma sát có tính phi tuyến cao và có thể gây ra sai lệch trạng thái ổn định, các chu kỳ giới hạn và hiệu suất kém… Mô hình đối tượng Coulomb Friction + + Viscous Nhiễu lặp u + - Inertia ∫ v ∫ x HÌNH 1. 4: Mô hình đối tượng và các nhiễu lặp Bình thường, thuật toán tỷ lệ - tích phân - vi phân tiêu chuẩn ( ID) được sử dụng trong điều khiển chuyển động để giải quyết bài toán ma sát. Khâu tích phân trong bộ điều khiển để loại bỏ sai lệch. Việc sử dụng phản hồi thường đơn giản và hiệu quả bởi vì nó không cần thiết phải có các đặc điểm chi tiết của quá trình [5].
Hiệu suất bám cao có thể đạt được khi hệ số khuếch đại cao được sử dụng trong vòng lặp. Tuy nhiên, tăng các hệ số khuếch đại bộ điều khiển có thể làm cho vòng lặp không ổn định. Lực ma sát cũng có thể được bù b ng điều khiển Feed - Forward nhưng nó chỉ thích hợp nếu quỹ đạo vận tốc mong muốn được biết trước. Ý tưởng là đơn giản.
Nhiễu ma sát được đo, và một tín hiệu điều khiển cố gắng để chống lại nhiễu này được tạo ra và áp dụng cho quá trình này. Trong thực tế, ma sát biến đổi Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ 7 phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lực, vị trí, nhiệt độ, và v. Một biến đổi của một trong những yếu tố có thể thay đổi các đặc điểm ma sát theo những cách phức tạp. Bởi vì các đặc điểm ma sát phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố dẫn đến yêu cầu thích nghi tự động.
Bất định mô hình Trong thực tế, các hệ thống điều khiển chuyển động luôn luôn hoạt động với bất định mô hình. Tính bất định là không có thông tin, có thể không được mô tả và đo lường. Tính bất định mô hình có thể bao gồm bất định tham số và các động học không mô hình. Như đã giải thích trong [8], bất định tham số có thể do tải biến đổi, các khối lượng và các quán tính ít biết đến, hoặc không rõ và các thông số ma sát biến đổi chậm theo thời gian, v.
Bất định cấu tr c do các động học không mô hình có thể do ma sát bị bỏ quên trong các truyền động, khe hở trong các bánh răng, do tính mềm cơ khí bị bỏ qua trong các khớp và các liên kết, v.v… Trong lý thuyết điều khiển, bất định mô hình được xem xét từ quan điểm của mô hình hệ thống vật lý. Các động học không mô hình và bất định tham số có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất bám và thậm chí có thể dẫn đến không ổn định. Nếu cấu tr c mô hình được giả định là đ ng, nhưng hiểu biết chính xác về các thông số đối tượng không rõ, thì điều khiển thích nghi được áp dụng. Trong điều khiển thích nghi, một hoặc nhiều tham số điều khiển hoặc các tham số mô hình được điều chỉnh trực tuyến b ng một thuật toán thích nghi sao cho các động học vòng lặp kín phù hợp với hoạt động của mô hình mẫu mong muốn mặc dù các thông số đối tượng không rõ hoặc biến đổi theo thời gian.
Do đó, để đạt bám quỹ đạo tiệm cận, bất định tham số nên được kể đến, dưới điều kiện là một hiệu suất vòng lặp kín ổn định được đảm bảo 1. Khó khăn cần đối mặt khi thiết kế hệ thống điều khiển Bài toán đặt ra cho hệ thống điều khiển ở đây đó là hình in ra phải giống như hình mẫu, tốc độ in cao (năng suất cao) khi phải đối mặt với các khó khăn như sau: - Thông số của đối tượng điều khiển thay đổi chẳng hạn như những thay đổi tham số do các điều kiện hoạt động và các thay đổi tải trọng khác nhau; Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ 8 + hi tuyến thiết bị truyền động, cảm biến: chẳng hạn như trễ, vùng chết, độ bão hòa, thay đổi độ dốc đầu vào đầu ra trong dải hoạt động cũng như sự phi tuyến của lượng tử hóa khi sử dụng các bộ chuyển đổi AD để điều khiển máy tính - số: + Khe hở và mức độ phù hợp trong bộ truyền động bánh răng. + Thời gian trễ. - Tác động của nhiễu hệ thống.
Nhiễu hệ thống chính được hiểu ở đây là lực ma sát có tính phi tuyến cao. Điều khiển chuyển động chính xác cao s bị ảnh hưởng bởi sự xuất hiện của ma sát. Ma sát, là một hiện tượng phi tuyến rất phức tạp tồn tại trong hầu hết các hệ thống cơ khí liên quan đến chuyển động tương đối giữa các bộ phận. Các đặc tính khác nhau của ma sát có thể xuất hiện trong các dạng khác nhau của các bề mặt tiếp x c và độ lớn của lực ma sát phụ thuộc vào các tính chất vật lý của các bề mặt tương tác cũng như tải.
Các vấn đề gây ra bởi ma sát cho kết quả ban đầu là các sai số vị trí, bám không tốt và không đơn giản được loại bỏ b ng cách đưa khâu tích phân vào trong bộ điều khiển. Đặc biệt, khi chuyển động ở tốc độ thấp mà biên độ nhỏ, ma sát phi tuyến kết hợp với khâu tích phân dẫn đến các chu kỳ giới hạn gọi là sự tiến gián đoạn.