Chương 1 của luận văn giới thiệu những khái niệm cơ bản về các loại công suất, mối quan hệ giữa các loại công suất, khái niệm về hệ số công suất cos trong mạch điện. Luận văn cũng nêu ảnh hưởng của hệ số công suất cos đến chất lượng điện năng mà cụ thể là tổn thất điện áp và tổn thất công suất khi truyền tải điện năng; ý nghĩa của việc bù công suất phản kháng để nâng cao hệ số công suất khi truyền tải điện năng: Giảm tổn thất điện áp; giảm tổn thất công suất; tăng năng lực truyền tải của đường dây và máy biến áp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP BÙ CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG ĐỂ NÂNG CAOHỆ SỐ CÔNG SUẤT Việc nâng cao hệ số công suất coslà nhằm giảm lượng công suất phản kháng phải truyền tải trên đường dây của hệ thống cung cấp điện đến tải.Để làm được điều này, trong thực tế có 2 biện pháp: - Nâng cao hệ số cosφ tự nhiên(biện pháp tự nhiên): Đây là thực chất là nhóm các phương pháp bằng cách vận hành hợp lý các thiết bị dùng điện để tự bù công suất phản kháng cho nhau nhằm giảm lượng Q đòi hỏi từ nguồn. - Nâng cao hệ số công suất bằng cách đặt thiết bị bù: Không yêu cầu giảm lượng Q đòi hỏi từ thiết bị dùng điện mà thực hiện việc bù công suất Q ngay tại đầu nguồn cung cấp cho các phụ tải nhằm giảm lượng Q phải truyền tải trên đường dây.
Phương pháp này được thực hiện sau khi đã thực hiện biện pháp thứ nhất mà chưa đạt được kết quả thì mới thực hiện việc bù. Các phương pháp bù công suất phản khángđể nâng cao hệ số công suất truyền thống 2. Phương pháp nâng cao hệ số cos tự nhiên Nâng cao cosφ tự nhiên có nghĩa là tìm các biện pháp để phụ tải tiêu thụ điện giảm bớt được lượng công suất phản kháng mà chúng cần có ở nguồn cung cấp. Các phương pháp nâng cao hệ số cos tự nhiên: - Thay những động cơ không đồng bộ làm việc non tải bằng những động cơ có công suất nhỏ hơn: Khi làm việc bình thường động cơ tiêu thụ công suất phản kháng: 2 𝑄 = 𝑄𝑘𝑡 + ∆𝑄đ𝑚 𝑘𝑝𝑡 (2.1) Với công suất phản kháng khi không tải (chiểm tỷ lệ 60 ÷ 70 % so với Qđm) và có thể xác định theobiểu thức: 𝑄𝑘𝑡 ≈ √3𝑈đ𝑚 𝐼𝑘𝑡 (2.2) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 𝐼𝑘𝑡 –làdòng điện không tải của động cơ.
𝑃 𝐾𝑝𝑡 –làhệ số mang tải của động cơ. 𝑃đ𝑚 ∆𝑄đ𝑚 - làlượng gia tăng công suất phản kháng khi động cơ mang tải định mức so với khi không tải, được xác định theo biểu thức (2.3) ∆𝑄đ𝑚 = 𝑄đ𝑚 − 𝑄𝑘𝑡 ≈ 𝑡𝑔𝜑đ𝑚 − √3𝑈đ𝑚 𝐼𝑘𝑡 đ𝑚 trong đó 𝜂đ𝑚 - hiệu suất của động cơ khi mang tải định mức. Từ đây ta có hệ số công suất được xác định theo biểu thức (2.4) cos 𝜑 = = = 𝑆 √𝑃2 + 𝑄2 2 𝑄𝑘𝑡 +∆𝑄đ𝑚 𝑘𝑝𝑡 √1 + ( ) 𝑘𝑝𝑡 𝑃đ𝑚 Do đó ta thấy rằng𝑘𝑝𝑡 giảm → cosφcũng giảm. Ví dụ: Một động cơcosφ = 0.85khi 𝑘𝑝𝑡 = 1; cosφ = 0,6 khi 𝑘𝑝𝑡 = 0.3 Khi có động cơ không đồng bộ làm việc ở trạng thái non tải, ta cần phải dựa vào mức độ tải để quyết định việc thay thế.
Kinh nghiệm vận hành cho thấy rằng: 𝑘𝑝𝑡 <0.45 việc thay thế động cơ có công suất nhỏ hơn bao giờ cũng có lợi.7việc thay thế động cơ có công suất nhỏ hơn sẽ không có lợi.7việc có tiến hành thay thế động cơ có công suất nhỏ hơn phải dựa trên việc so sánh kinh tế. - Giảm điện áp đặt vào động cơ thường xuyên làm việc non tải: Thực hiện giảm áp khi không có điều kiện thay thế động cơ công suất nhỏ hơn. Khi đó công suất phản kháng cho động cơ không đồng bộ được xác định theo biểu thức: 𝑈2 (2. 𝑉 𝜇 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Trong đó: k - hằng số; U - điện áp đặt vào động cơ; μ - hệ số dẫn từ của mạch từ; f - tần số dòng điện; V - thể tích mạch từ.
Các phương pháp giảm điện áp đặt vào động cơ không đồng bộ 3 phatrong thực tế: - Đổi nối dây quấn stato từ đấu ∆ → Y. - Thay đổi cách phân nhóm dây quấn stato. - Thay đổi đầu phân áp của máy biến áp hạ áp. Chú ý: Các biện pháp này thực hiện tốt đối với các động cơ có điện áp U< 0,3÷ 0,4 kV.
Bên cạnh đó khi đổi nối ∆ → Y, điện áp giảm 3 lần, dòng điện tăng 3 lần nhưng mômen sẽ giảm đi 3 lần, do đó phải kiểm tra điều kiện quá tải và khởi động sau đó. Các động cơ không đồng bộ chạy không tải hoặc non tải trong thực tế có thể gặp như các động cơ của máy công cụ khi làm việc có thời gian chạy không tải xen lẫn thời gian mang tải (chiếm tới 50 - 60 %). Do vậy, nếu giảm thời gian chạy không tải hoặc non tải sẽ tránh được tổn thất công suất (nâng cao hệ số cos).Quá trình đóng cắt động cơ cũng sinh ra tổn hao mở máy.Thực tế vận hành cho thấy nếu t0 (thời gian chạy không tải) của động cơ lớn hơn 10 giây thì việc cắt động cơ ra khỏi nguồn điện là có lợi.Vì vậy trong thực tế người ta có thể sử dụng các biện pháp sau để giảm tổn thất công suất (nâng cao hệ số cos): Thao tác hợp lý, hạn chế thời gian chạy không tải hoặc đặt bộ hạn chế chạy không tải. - Dùng động cơ đồng bộ thay cho động cơ không đồng bộ: Đối với máy có công suất lớn, không yêu cầu điều chỉnh tốc độ.
Hệ số công suất cao, có thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com làm việc ở chế độ quá kích từ → máy bù công suất phản kháng, góp phần sự ổn định của hệ thống.Mômen quay tỷ lệ với bậc nhất của điện áp, dẫn tới ít ảnh hưởng đến dao động điện áp.Khi tần số nguồn thay đổi, tốc độ quay không phụ thuộc vào phụ tải nên năng suất làm việc cao.Tuy nhiên thực tế có nhược điểm là cấu tạo phức tạp, giá thành cao, số lượng mới chỉ chiếm 20% tổng số động cơ.Phương pháp nâng cao hệ số cos nhân tạo Bù công suất phản kháng Q chỉ được tiến hành sau khi thực hiện các biện pháp tự nhiên không đạt được yêu cầu.Thiết bị bù sử dụng hai loại thiết bị bù chính là tụ điện tĩnh (vì trong thực tế hầu hết tổng các phụ tải tiêu thụ điện đều có tính chất cảm kháng) và máy bù đồng bộ.Hai loại thiết bị này có những ưu nhược điểm gần như trái ngược nhau. Tùy theo yêu cầu của phụ tải và mạng điện cung cấp có thể lựa chọn thiết bị bù phù hợp. Phương pháp này được thực hiện bằng cách đặt các thiết bị bù công suất phản kháng ởcác hộ tiêu thụ điện. Các thiết bị bù công suất phản kháng bao gồm: - Máy bù đồng bộ.
- Tụ bù tĩnh. Máy bù đồng bộ Máy bù đồng bộ chính là động cơ đồng bộ làm việc trong chế độ không tải, hoặc non tải. - Có khả năng phát và tiêu thụ được công suất phản kháng. - Công suất phản kháng phát ra không phụ thuộc vào điện áp đặt, chủ yếu là phụ thuộc vào dòng kích từ (điều chỉnh được dễ dàng).
- Lắp đặt vận hành phức tạp, dễ gây sự cố (vì có bộ phần quay). - Máy bù đồng bộ tiêu thụ công suất tác dụng khá lớn khoảng 0,015÷0,02 kW/kVAr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com - Giá tiền đơn vị CSPK thay đổi theo dung lượng. Nếu dung lượng nhỏ thì sẽ đắt.
Vì vậy chỉ được sản xuất ra với dung lượng lớn 5 MVAr trở lên. * Ưu điểm: máy bù đồng bộ vừa có khả năng sản xuất ra CSPK, đồng thời cũng có khả năng tiêu thụ CSPK của mạng điện. *Nhược điểm: máy bù đồng bộ có phần quay nên lắp ráp, bảo dưỡng và vận hành phức tạp. Máy bù đồng bộ thường để bù tập trung với dung lượng lớn.Tụ bù tĩnh Giá tiền cho một đơn vị công suất phản kháng phát ra hầu như không thay đổi theo dung lượng, do đó thuận tiện cho chia nhỏ ra nhiều nhóm nhỏ đặt sâu về phía phụ tải.
Tiêu thụ rất ít công suất tác dụng khoảng 0,003 – 0,005 kW/kVAr. Vận hành lắp đặt đơn giản, ít gây ra sự cố. Công suất phản kháng phát ra phụ thuộc vào điện áp đặt vào tụ.Chỉ phát công suất phản kháng và không có khả năng điều chỉnh.Mạng điện xí nghiệp chỉ nên sử dụng tụ điện tĩnh, còn máy bù đồng bộ chỉ được dùng ở phía hạ áp (6–10 kV) của các trạm trung gian. a) Phương pháp bù tĩnh sử dụng các tụ điện mắc song song với nhau và các bộ đóng ngắt contactor, rơ le Hình 2.
Bộ bù tĩnh sử dụng các tụ điện mắc song song với nhauvà các bộ đóng ngắt contactor, rơ le Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Phân tích hệ thống: Ta có tải thông thường mang tính chất điện cảm nên: Ztải = R + j.6) Khi đó ta có: Ztổng = R + jXL – jXC = R + j(XL – XC) (2.7) Mà ta luôn mong muốn cosφ = 1 => yêu cầu Ztổng = R => XL – XC = 0. Với hệ thống bù trên khi tải thay đổi tức L thay đổi (giả sử L tăng) Công tắc tơ đóng => XC tăng => Ztổng≈ R => cosφ ≈ 1. Thông thường dùng 6 cấp tụ bù (hoặc 12 cấp) tùy theo số lượng tải. Trên thực tế, điện cảm L của tải luôn thay đổi, tức là XL thay đổi.
Vậy mong muốn cosφ ≈ 1 thì đại lượng XC cũng cần thay đổi theo. Ưu điểm: Gọn nhẹ, làm việc êm dịu, tiêu thụ công suất tác dụng ít, có thể thay đổi dung lượng bù theo một số cấp. Nhược điểm: Không linh hoạt; độ tin cậy thấp; không thể điều chỉnh trơn dung lượng bù nên thường gây ra hiện tượng bù thừa hoặc thiếu khi làm việc; bị ảnh hưởng lớn bởi sóng hài bậc cao; thường xuyên phải kiểm tra chế độ làm việc của bộ đóng cắt; tuổi thọ thiết bị không cao. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Một số hình ảnh về tủ bù cosbằng các bộ tụ điện thực tế: Hình 2.