CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực và đánh giá theo tiếp cận năng lực 1. Một số khái niệm 1. Năng lực LCác quan điểm tiêu biểu về năng lực là: - Theo X.Rubinstein: “ Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lý làm cho con người thích hợp với một hoạt động có lợi ích xã hội nhất định” (dẫn theo [30, tr.7 ] ) -Theo DeSeCo(2002): “Năng lực là một hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động kiến thức, kỹ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ, cảm xúc, giá trị, đạo dức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong bối cảnh cụ thể” (dẫn theo [13, tr.53] ) -Theo OECD(2003): “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phù hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể” (dẫn theo [13, tr.
-Theo QuéBec-Ministére de l’Education(2004): “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống” (dẫn theo [13, tr. Từ các khái nhiệm năng lực nêu trên, có thể thấy năng lực có một số đặc điểm: Năng lực mang tính cá nhân, mỗi người có năng lực ở mức độ khác nhau. Năng lực biểu hiện và quan sát được trong các hoạt động, hình thành và phát triển thông qua hoạt động. Năng lực của mỗi người không phải bất biến mà có thể rèn luyện, phát triển qua hoạt động giáo dục.
Ở đây ta tiếp cận năng lực theo hướng năng lực hành động, tức là có cấu trúc, có thể mô tả được, đo đếm được, do đó có thể đánh giá được. Mỗi môn học có thế mạnh hình thành và phát triển một (hoặc một số) năng lực chung cốt lõi. Chẳng hạn 8 môn Toán có ưu thế trong việc hình thành và phát triển năng lực tính toán, với các thành tố cấu trúc là: thành thạo các phép tính; sử dụng được ngôn ngữ toán học (bên cạnh ngôn ngữ thông thường); mô hình hoá; sử dụng được các công cụ toán học. ĐG trong giáo dục Đến nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ĐG trong giáo dục.
Theo Jean-Marue De Ketele(1989) thì: “ ĐG có nghĩa là : Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thích hợp, có giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợp với các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định”.Theo GD học thì: “ ĐG được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác GD”. Như thế, ĐG là một quá trình, bắt đầu khi ta định ra một mục tiêu phải theo đuổi và kết thúc khi ta đã đề ra một quyết định liên quan đến mục tiêu đó. Ta cần hiểu rằng quyết định có được tiếp tục đánh dấu cho sự khởi đầu quá trình khác, tiếp theo. Chẳng hạn: điều chỉnh nội dung, PPDH; điều chỉnh chương trình,.
ĐG kết quả học tập Hiện nay, qua các tài liệu hiện hành ở nước ta cho thấy các tác giả Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc [ 20] đang thiên về cách hiểu : ĐG kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện, đạt được mục tiêu học tập xác định, về tác động và nguyên nhân, tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để họ học tập ngày càng tiến bộ. Tác giả luận văn đồng quan điểm với các tác giả trên. ĐG theo tiếp cận năng lực Trong luận án này, ĐG tiếp cận năng lực người học được hiểu là quá trình thu thập, phân tích, xử lý và giải thích chứng cứ về sự phát triển năng lực người học. ĐG theo tiếp cận năng lực học sinh sau khi đã học một nội dung hoặc một giai đoạn học tập cũng là một loại đánh giá trong giáo dục, đối tượng chính là năng lực chung, cốt lõi cần đạt.
Do đó ĐG theo tiếp cận năng lực người học phải tuân thủ các quy tắc, tính chất, kĩ thuật chung của ĐG trong giáo dục. Ngoài ra, các thành tố cấu trúc, các tiêu chuẩn, tiêu chí của nó để có thể mô tả được các năng lực đó, tiến tới xây dựng được biến đánh giá , tạo công cụ đánh giá. Trong dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, việc ĐG kết quả học tập của học sinh không quá quan trọng khả năng tái hiện kiến thức mà luôn chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong các tình huống ứng dụng khác nhau. Để ĐG một năng lực người ta cần mô tả nó, coi đó như các tiêu chuẩn để từ đó cụ thể hóa theo các cấp độ thành các tiêu chí ĐG.
Sau đó minh họa mỗi cấp độ đạt được qua lĩnh vực nội dung. Kết quả sự minh họa này được xem như chuẩn thành tích. Mục đích đánh giá Theo [ 28, tr.25] , Đánh giá trong giáo dục có mục đích chung là cung cấp thông tin để ra các quyết định về dạy học và giáo dục. Có các đối tượng sử dụng thông tin này: Đối với học sinh: Tuyển chọn và phân loại cho đúng năng lực, trình độ (đánh giá đầu vào).
Xác định kết quả tiếp thu, vận dụng KT - KN và thái độ cần có dựa theo mục tiêu đề ra. Thúc đẩy học sinh cố gắng khắc phục thiếu sót hoặc phát huy năng lực của mình. Đánh giá sự phát triển nhân cách nói chung so với mục tiêu ĐT và yêu cầu của thực tiễn (Đánh giá đầu ra). Đối với GV: Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập và rèn luyện của học sinh.
Cung cấp thông tin phản hồi có tác dụng giúp họ giảng dạy và giáo dục tốt hơn. Kết quả đánh giá tạo cơ sở điều chỉnh, cải 10 tiến phương pháp giảng dạy, kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của quá trình này. Đối với nhà trường: Đánh giá việc thực hiện nội dung chương trình, kế hoạch giáo dục của các tổ bộ môn, GV,.Đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của trường như: Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nghiệp vụ quản lí của đội ngũ GV và cán bộ quản lí giáo dục ở cơ sở,. Cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện dạy học,.
Đánh giá việc thực hiện nội quy, quy chế, chính sách. Đối với các cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục Đánh giá về dư luận xã hội, về cách thức tuyển sinh, về kết quả của toàn bộ hệ thống giáo dục, nhằm giúp cơ quan quản lí giáo dục thấy được thực trạng, nhu cầu và định hướng sửa đồi mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học,.đánh giá công tác tổ chức, quản lí giáo dục. Yêu cầu đối với đánh giá Theo [ 23, tr.90] , ĐG phải đảm bảo các yêu cầu sau: - Đảm bảo tính khách quan: Nguyên tắc khách quan được thực hiện trong quá trình kiểm tra và đánh giá nhằm đảm bảo sao cho kết quả thu thập được ít chịu ảnh hưởng từ những yếu tố chủ quan khác. - Đảm bảo sự công bằng: Nguyên tắc công bằng trong đánh giá kết quả học tập nhằm đảm bảo rằng những học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ, thể hiện cùng một nỗ lực trong học tập sẽ nhận được những kết quả như nhau.
- Đảm bảo tính toàn diện: Quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm đảm bảo kết quả học sinh qua kiểm tra, phản ánh được mức độ đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ ở lý thuyết cũng như thực hành, ứng dụng với các mức độ nhận thức khác nhau trong hoạt động học tập của họ. - Đảm bảo tính công khai:Các tiêu chí và yêu cầu đánh giá các nhiệm vụ hay bài tập, bài thi cần được công bố đến học sinh trước khi họ thực hiện. 11 - Đảm bảo tính giáo dục: Đánh giá phải góp phần nâng cao việc học tập và khả năng tự học, tự giáo dục của học sinh. - Đảm bảo tính phát triển: Giáo dục là quá trình giúp những cá nhân trong xã hội phát triển tiềm năng của mình để trở thành những người có ích.
Phương pháp và hình thức đánh giá Theo [13, tr.27 ] , có nhiều cách phân chia hình thức đánh giá trong giáo dục + Xét theo tính liên tục và thời điểm đánh giá thì đánh giá trong giáo dục thường được chia thành đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết. Đánh giá tổng kết hay còn gọi là đánh giá kết quả là đánh giá có tính tổng hợp, bao quát, nhằm cung cấp thông tin về sự thành thạo của học sinh ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết thúc một khóa học/lớp học/kì học hoặc một môn học. Đánh giá quá trình là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình thực hiện hoạt động giảng dạy, cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh, mối quan tâm của đánh giá quá trình là hiệu quả của hoạt động dạy học trong việc phát triển khả năng của người học, chứ không là việc chứng minh học sinh đã đạt được một nức độ thành tích nào đó. + Xét dựa theo chuẩn tương đối của nhóm người cùng được đánh giá, chuẩn về mức độ thành thạo đáp ứng chuẩn mực mong đợi thì ĐG trong giáo dục được chia thành ĐG dựa theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí.
Đánh giá dựa theo chuẩn là so sánh thành tích các đối tượng cùng được đánh giá với nhau. Hình thức đánh giá này đưa ra những nhận xét về mức độ cao hay thấp trong năng lực của cá nhân so với những người khác cùng làm bài thi. Đánh giá dựa theo tiêu chí là người học được đánh giá dựa trên các tiêu chí đã được xác định rõ ràng thành tích đạt được so với chuẩn đầu ra hay mục tiêu đã đề ra, thay vì được xếp hạng trên cơ sở của kết quả thu được của học sinh thuộc mẫu khảo sát. Có nhiều phương pháp sử dụng để đánh giá theo tiếp cận năng lực học sinh như phương pháp kiểm tra vấn đáp, viết, quan sát, thực hành [8, tr.