mở đầu cho một thập kỷ mà các nước ASEAN thực hiện chính sách bao vây, cấm vận kinh tế và cô lập chính trị nước ta. Thực chất Campuchia đã trở thành “một con bài” “trò chơi quyền lực” của các nước lớn, khiến cho mối quan hệ giữa các quốc gia rơi vào trạng thái thù địch. Ngày 9/1/1979, Ngoại trưởng Mỹ Cyrus Vance cho rằng: “Các cuộc nói chuyện Mỹ Việt Nam về bình thường hóa đã tan vỡ do cuộc xâm lược Campuchia của Việt Nam”. Vấn đề POW/MIA.
Vấn đề tù binh chiến tranh/quân nhân bị mất tích trong chiến tranh (Prisoners of War/Missing in Action) là một trong những vấn đề có ảnh hưởng đáng kể đối với việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ. Việt Nam luôn coi đây là vấn đề nhân đạo và nhận thức rõ tầm quan trọng của việc hợp tác với Mỹ trong việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, do trong quá trình thực hiện xảy ra những nghi kỵ, phía Mỹ cho rằng Việt Nam chưa thực sự trung thực trong việc tìm kiếm và trao trả tù bình, khiến cho những bất đồng giữa hai nước trong vấn đề này kéo dài từ trước khi chiến tranh kết thúc đến tận những năm 90 của thế kỷ XX. Trong suốt quá trình đó, hầu hết các nhà phân tích Mỹ đều cho rằng Việt Nam “cất giữ” hàng trăm bộ hài cốt và tiến hành trao trả dần một cách có chiến thuật.
Do vậy, bên cạnh vấn đề Campuchia, Mỹ cũng coi vấn đề POW/MIA như một điều kiện quan trọng để gỡ bỏ những lệnh cấm vấn, tiến hành bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Mâu thuẫn trong chính sách của Mỹ và Việt Nam. Lúc này, giữa Mỹ và Liên Xô vẫn đang diễn ra cuộc Chiến tranh lạnh, chính sự đối đầu về ý thức hệ đã tác động đến chính sách đối ngoại của Mỹ trên trường quốc tế. Chiến lược cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Mỹ thời kỳ này là ngăn chặn chống Liên Xô, trên thế giới nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng để ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản.
Sau thất bại ở cuộc Chiến tranh Việt Nam, Mỹ không còn coi Đông Nam Á là khu vực ưu tiên hàng đầu trong chiến lược của họ, rút hết sự có mặt quân sự khỏi Đông Nam Á, chiến tranh kết thúc tạo ra sự ổn định trong khu vực sau 30 năm căng thẳng, vì thế mà lợi ích của các nước liên quan trong khu vực cũng thay đổi. Mỹ lúc này chìm đắm trong “hội chứng Việt Nam” không hề mong muốn sẽ lại vấp phải vấn đề Việt Nam một lần nữa, do đó, năm 1977, Jimmy Carter lên làm Tổng thống Mỹ đã có những động thái bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Các nước ASEAN từng dính líu tới Chiến tranh Việt Nam giờ đây chia sẻ nguyện vọng chung là muốn có hòa bình, ổn định để phát triển. Họ muốn thiết lập quan hệ tốt với Việt Nam.
Tuy nhiên, tình hình Đông Nam Á bấy giờ, với sự xuất hiện của kẻ thù mới và sự quay lưng của chỗ dựa cũ của ta trong chiến tranh, Việt Nam ta đã có những cái nhìn đối nghịch so với Mỹ và ASEAN. Đối với Việt Nam, Mỹ vẫn là kẻ thù trực tiếp đang lăm le thực hiện “kế hoạch hậu chiến” chống Việt Nam khi Mỹ lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (trong khi Trung Quốc lúc này quay lưng lại với ta). Với các nước ASEAN, ta vẫn coi đây là khối quân sự SEAT “sản phẩm của Mỹ” nên dù đã bình thường hóa quan hệ, song, ta vẫn chưa thực sự tin tưởng ASEAN. Mặt khác, ta chú trọng nghĩa vụ quốc tế là ủng hộ phong trào cách mạng của các nước trong khu vực, trong khi đây chính là vấn đề ASEAN quan ngại ở ta.
Động thái của phía Việt Nam là ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác với Liên Xô, sau đó lại đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ Pol Pot. Sự mâu thuẫn trong chiến lược của Mỹ và những hành động của Việt Nam sau chiến tranh đã ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Giai đoạn 1991 Một trật tự thế giới đa cực dần được hình thành Tháng 12 năm 1991, M. Gorbachyov tuyên bố từ chức Tổng thống Liên Xô, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Liên bang Xô Viết tan rã.
Đây được coi là một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị thế giới, việc một trong hai siêu cường của trật tự thế giới hai cực tan rã đã “tạo ra một khoảng trống quyền lực trong chính trị quốc tế, làm tan vỡ sự cân bằng toàn cầu tồn tại trong gần 50 năm kể từ Hội nghị Yalta”. Đối với Việt Nam, kể từ sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930, các lãnh tụ phải bắt đầu “tự lái con thuyền quốc gia qua những vùng nước chưa có trên bản đồ” Kể từ sau khi cực Xô Viết của Trật tự hai cực Yalta sụp đổ, một trật tự đa cực mới trên thế giới bắt đầu hình thành, hướng tới xu hướng khu vực hóa, quốc tế hóa, toàn cầu hóa phát triển tác động không nhỏ tới việc hoạch định chính sách của các quốc gia trên thế giới. Nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nổ ra, các nước ưu tiên phát triển kinh tế, hệ tư tưởng không còn là chuẩn mực cao nhất trong quan hệ quốc tế. Xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác và phát triển đã góp phần đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân nhưng những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột sắc tộc lại có chiều hướng gia tăng.
Cùng với đó, nhiều vấn đề toàn cầu như nạn đói, bùng nổ dân số, dịch bệnh cũng đặt ra thách thức cho không chỉ riêng nước nào mà đòi hỏi sự hợp tác quốc tế, cùng chung tay giải quyết. Các khu vực trên thế giới có sự chuyển biến mạnh mẽ Giai đoạn này, một loạt các tổ chức khu vực ra đời như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC).; ngoài ra còn các hình thức hợp tác khác xuất phát từ các nhu cầu phát triển kinh tế, từ đó tận dụng tiềm năng khu vực của mình nhằm ứng phó với quá trình toàn cầu hóa đang tiến triển nhanh chóng. Khu vực Châu Á Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á nổi lên là một khu vực có sự phát triển kinh tế năng động với tốc độ nhanh chóng, thậm chí kinh tế Đông Á những năm 1990 còn được dự đoán sẽ theo kịp nền kinh tế Mỹ vào năm 2000. Bên cạnh đó, vì nhu cầu phát triển kinh tế của các nước trong khu vực nên khu vực Châu Thái Bình Dương xuất hiện xu thế hòa bình, ổn định sớm.
Điều đó được biểu hiện qua các cuộc đối thoại Xô Trung, Mỹ , quá trình giải quyết vấn đề Campuchia, sự hòa dịu trên bán đảo Triều Tiên,. Đối với khu vực Đông Nam Á, sự chuyển biến mạnh mẽ của cục diện thế giới giai đoạn này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình khu vực. Từ chỗ là khu vực bị phân hóa sâu sắc, các nhóm nước nghi kỵ lẫn nhau, vì lợi ích chung, các nước ASEAN bắt đầu thay đổi chính sách theo hướng đẩy mạnh hợp tác, lấy hợp tác kinh Bộ Ngoại giao. Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc.
Chính trị quốc gia. Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương. Viện phát triển quốc tế Harvard Trường ĐH Harvard. Bản tiếng Việt, Nxb.
Chính trị quốc gia. 65 tế để thúc đẩy hợp tác an ninh chính trị, hướng tới xây dựng một Đông Nam Á hòa bình và ổn định. Tình trạng đối đầu giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương giảm dần và thay vào đó là các cuộc hội đàm song phương và đa phương đã đưa bầu không khí chính trị ở Đông Nam Á chuyển dần sang hướng tích cực. Hơn thế nữa, các nước Đông Nam Á đã tranh thủ được lợi thế về địa lý, tài nguyên và con người để tăng cường đổi mới công nghệ, tranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật bên ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Mỹ gấp rút thực hiện nhiều biện pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu “bá chủ” của mình Kể từ năm 1989, bức tường Berlin sụp đổ, hai năm sau Liên Xô tan rã, chiến tranh Lạnh chính thức kết thúc đã tạo ra cho Mỹ một lợi thế tạm thời hay còn gọi là “khoảnh khắc đơn cực”. Mỹ ra sức củng cố vị trí siêu cường duy nhất còn lại của mình với mưu đồ làm bá chủ thế giới bằng cách ráo riết xúc tiến việc thiết lập hệ thống quốc tế tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu đó, Mỹ đã sử dụng các tổ chức quốc tế để hợp tác hóa các hành động của mình, mở rộng vai trò của mình ra ngoài khuôn khổ Hiến chương Liên Hợp Quốc. Nhưng mặt khác, bước ra khỏi Chiến tran Lạnh, Mỹ đã bị suy yếu không ít, mâu thuẫn lớn nhất của Mỹ lúc này là tham vọng bá chủ và khả năng thực hiện tham vọng đó.
Lợi dụng thời cơ và ưu thế không còn đối trọng, “đơn phương” lãnh đạo thế giới, Mỹ triển khai “cuộc thập tự chinh” đặt “các giá trị Mỹ”, như “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “mô hình phát triển kiểu Mỹ”. ra khắp thế giới, nhằm biến quá trình toàn cầu hóa thành quá trình “Mỹ hóa toàn cầu”. Trên phạm vi toàn cầu, Mỹ xác lập vị trí là người bảo đảm an ninh ở châu Âu, Trung Đông, Trung Á, Đông Bắc Á, Nam Mỹ; đơn phương thực hiện những biện pháp trừng phạt, can thiệp vào công việc nội bộ, trong đó bao gồm cả biện pháp quân sự đối với các quốc gia độc lập có chủ quyền núp dưới chiêu bài bảo vệ “dân chủ” “nhân quyền”,. oảng thời gian mà vị thế siêu cường duy nhất của Mỹ tồn tại không lâu, khi mà các nước lớn khác cũng đang từng bước lớn mạnh, đe dọa tới vị trí bá chủ mà Mỹ đang muốn sở hữu.
Đối với Việt Nam, Mỹ cho rằng việc bình thường hóa quan hệ và thúc đẩy hợp với Việt Nam vừa xuất phát từ tác động của các nhân tố toàn cầu sau chiến tranh Lạnh, vừa nằm trong sự điều chỉnh chiến lược toàn cầu nói chung, với khu vực Châu Thái Bình Dương và Đông Nam Á nói riêng.