Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA WTO VÀ VIỆC THAM GIA VỚI TƢ CÁCH LÀ BÊN THỨ BA 1. Quá trình hình thành và phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 01/01/1995 trên cơ sở kết quả Vòng đàm phán đa phương Uruguay (1986-1993). Trên nhiều phương di n, WTO ra đời trên cơ sở tiền thân là GATT - Hi p định chung về thuế quan và thương mại được ký kết vào năm 1948 và chấm dứt hi u lực kể từ ngày 31/12/1994 [7]. Trong suốt 47 năm hình thành và phát triển, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT đã đạt được một số kết quả nhất định.
Cơ chế này được đánh giá vừa có tính chất pháp lý vừa có tính chất ngoại giao giữa các nước thành viên của GATT. Ngay từ khi cơ chế của GATT đi vào hoạt động, mô hình này tỏ ra khá phù hợp với bối cảnh kinh tế thế giới bởi một số lý do sau đây: Thứ nhất, số lượng các nước Thành viên sáng lập của GATT còn ít (tổng số Thành viên sáng lập ban đầu là 23 nước). Thứ hai, các nước Thành viên sáng lập đa số là những nước phát triển, có nền kinh tế phát triển với nhiều đặc điểm tương đồng. Thứ ba, những vấn đề tranh chấp phát sinh trong một số lĩnh vực nhất định và được giải quyết có tính chất ngoại giao là chủ yếu.
Do vây, cơ chế giải quyết tranh chấp trong suốt giai đoạn tồn tại và phát triển của GATT đã đạt được một số thành công định. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp, số lượng các nước thành viên ngày gia tăng (gồm cả những nước phát triển, đang phát triển và kém phát triển), cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT ngày càng bộc lộ những hạn chế, thậm chí bế tắc trong vi c giải quyết các tranh chấp giữa các nước Thành viên. Tại Vòng đàm phán Uruguay, các nước Thành viên đã ký kết quyết 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định thành lập WTO cùng với các Hi p định đa phương mới về thương mại. Trong đó điểm nhấn nổi bật tại vòng đàm phán này, các nước đã cùng thống nhất ký kết Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh vi c giải quyết tranh chấp (DSU) trong khuôn khổ WTO.
Thỏa thuận này tạo cơ sở pháp lý và có giá trị bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO. WTO luôn được khẳng định tôn chỉ hoạt động của mình: “WTO là một tổ chức được điều hành hành bởi các thành viên dựa trên cơ sở luật lệ - mọi quyết định đều được ban hành bởi các thành viên, và các luật hệ đều là kết quả của việc đàm phán thống nhất giữa các thành viên” [47]. Hi n nay với tổng số hơn 500 vụ ki n được thụ lý và giải quyết thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, DSU được đánh giá là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp được sử dụng thường xuyên, hi u quả và có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia thành viên. Sự hình thành cơ chế giải quyết tranh chấp H thống giải quyết tranh chấp của WTO đóng vai trò hết sức quan trọng và được xem như một trong những bi n pháp điều hòa, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại quốc tế dựa trên h thống luật l (rules-based system).
H thống này được kế thừa và phát triển dựa trên nền tảng h thống giải quyết tranh chấp thương mại đa biên trong Hi p định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT). Cụ thể, DSU kế thừa và phát triển dựa trên các quy định cụ thể tại Điều XXII và XXIII của GATT 1947 cũng như những thủ tục được tiếp tục sửa đổi bổ sung (khoản 1 Điều 3 DSU) về giải quyết tranh chấp giữa các nước Thành viên. H thống giải quyết tranh chấp hi n nay của WTO về cơ bản vẫn dựa trên và tuân thủ những nguyên tắc giải quyết tranh chấp đã được áp dụng theo các Điều XXII và XXIII của GATT 1947. Tuy nhiên tại Vòng đàm phán 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Uruguay, các nước Thành viên đã nhất trí sửa đổi và chi tiết hóa h thống giải quyết tranh chấp của GATT trước đó để phù hợp với thực tiễn.
Hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT 1947 Cơ chế giải quyết tranh chấp dựa trên những quy định tại Điều XXII và Điều XXIII Hi p định GATT 1947. Cụ thể như sau: Thứ nhất, quy định về căn cứ và thủ tục Tham vấn giữa các bên ký kết tại Điều XXII như sau: “1. Mỗi bên ký kết sẽ quan tâm xem xét những vấn đề có thể được một bên ký kết khác đề cập về tác động đến sự thực thi Hiệp định này và sẽ dành các khả năng thích ứng để tham vấn giải quyết các vấn đề đó. Theo yêu cầu của một bên ký kết, các Bên ký kết sẽ có thể tiến hành tham vấn với một hay nhiều bên ký kết về một vấn đề, tham vấn sẽ được tiến hành theo phương thức đã nêu tại khoản 1.
Theo quy định này, các nước Thành viên xem xét khả năng tuân thủ của một nước Thành viên khác về vi c áp dụng và thực hi n GATT. Thủ tục tham vấn được tiến hành khi có yêu cầu của một bên đối với một hoặc nhiều bên về một vấn đề liên quan đến Hi p định đã ký kết. Thứ hai, quy định vấn đề vô hi u hóa hay vi phạm cam kết tại Điều XXIII của GATT [9]. Theo quy định này, nếu một bên ký kết cho rằng lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp của mình phát sinh từ các quy định của GATT bị vô hi u hay bị vi phạm bởi bên ký kết khác thì bên đó có quyền yêu cầu ngừng áp dụng nhân nhượng hay thực hi n nghĩa vụ của mình đối với bên vi phạm.
Có thể nhận thấy, cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT có tính chất hòa giải, tìm tiếng nói chung giữa các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp nhằm mục đích làm cho các bên tranh chấp hiểu nhau hơn và đi đến một giải pháp mà hai bên đều chấp nhận được. Trên thực tế các tranh chấp trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những năm đầu tiên tồn tại của GATT 1947 được Chủ tịch Hội đồng GATT xem xét và đưa ra phán quyết. Sau này, các tranh chấp được chuyển cho các Ban công tác bao gồm đại di n của tất cả các Bên ký kết có liên quan, bao gồm cả các bên tranh chấp để giải quyết. Các Ban công tác này thông qua báo cáo trên cơ sở quyết định đồng thuận.
Không lâu sau đó Ban công tác đã bị thay thế bởi Ban hội thẩm gồm từ 3 tới 5 chuyên gia độc lập không liên quan tới các bên tranh chấp. Các Ban hội thẩm này viết những báo cáo độc lập kèm theo khuyến nghị và phán quyết nhằm giải quyết tranh chấp và chuyển tới Hội đồng GATT. Những báo cáo này có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với các bên tranh chấp một khi được sự chấp nhận của Hội đồng GATT. Vì vậy các Bên ký kết GATT đã tạo ra một h thống án l và áp dụng cách tiếp cận ngày càng phụ thuộc vào các quy tắc pháp luật được thông qua trước đó và phương thức lập luận như của toà án trong các báo cáo của họ.
Các Bên ký kết GATT 1947 đã dần dần pháp chế hóa và đôi khi cũng sửa đổi những thực tiễn giải quyết tranh chấp khi có thủ tục phát sinh. Những quyết định và thỏa thuận quan trọng nhất về giải quyết tranh chấp trước Vòng đàm phán Uruguay bao gồm: - Quyết định về các thủ tục theo Điều XXIII (5.1966); - Thỏa thuận về thông báo, tham vấn, giải quyết tranh chấp và giám sát (28.1979); - Quyết định về giải quyết tranh chấp trong Tuyên bố cấp Bộ trưởng (29.1982); - Quyết định về giải quyết tranh chấp (30. Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Bên cạnh những thành công nhất định của cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947, cơ chế này đã bộc lộ nhiều nhược điểm, yếu kém trong quá 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình vận hành. Các vấn đề tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp.
Các vụ vi c tranh chấp ngày càng bị kéo dài, thậm chí bế tắc trong quá trình giải quyết. Điều này có thể lý giải bởi một số nguyên nhân như: i) Số lượng các nước Thành viên của GATT ngày một gia tăng; ii) Các nước Thành viên này có sự chênh l ch về trình độ phát triển kinh tế; iii) Các quy định của GATT không còn phù hợp với thực tiễn giải quyết tranh chấp. Điều này thậm chí còn dẫn tới nhiều hành động đơn phương của các nước Thành viên để thực thi quyền thay vì dựa vào h thống giải quyết tranh chấp của GATT. Từ thực tiễn những điểm yếu của h thống giải quyết tranh chấp của GATT, các Bên ký kết GATT 1947 đều nhận thấy rằng h thống này cần được đổi mới và hoàn thi n.
Vì vậy, vi c đàm phán về giải quyết tranh chấp đã được đưa vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán trong Vòng đàm phán Uruguay để sửa đổi, bổ sung quy định mới phù hợp thực tiễn trong vi c giải quyết tranh chấp giữa các nước Thành viên. Năm 1989, trong quá trình đàm phán tại Vòng đàm phán Uruaguay, các Bên ký kết đã sẵn sàng thực hi n một số kết quả cụ thể bước đầu của các cuộc đàm phán và đã thông qua Quyết định về Những đổi mới đối với các quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp trong GATT (ký ngày 12. Kết quả của Vòng đàm phán Uruguay là vi c các nước Thành viên ký kết Thoả thuận về các Quy tắc và Thủ tục điều chỉnh vi c giải quyết tranh chấp (DSU). Một h thống giải quyết tranh chấp mới được hoàn thi n đáng kể với những ưu điểm vượt trội so với cơ chế giải quyết tranh chấp cũ của GATT cụ thể như: Thành lập các cơ quan giải quyết tranh chấp chuyên bi t gồm Cơ quan Giải quyết tranh chấp (DSB), Cơ quan phúc thẩm (AB).
Những thủ tục giải quyết tranh chấp đã chi tiết hơn đối với các giai đoạn khác nhau khi giải quyết tranh chấp, bao gồm cả các thời hạn cụ thể đã được quy định trong DSU.