Chương 1: Căn cứ xây dựng đề án Chương 2: Nội dung của đề án Chương 3: Kiến nghị 4 CHƢƠNG 1: CĂN CỨ XÂ DỰNG ĐỀ ÁN 1.1 Hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được bổ sung, sữa đổi năm 2010 quy định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của TCTD như sau: “Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong việc vay và cho vay giữa các ngân hàng, các TCTD với các pháp nhân và cá nhân, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trường kinh tế.
Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng quan trọng của nó. Hoạt động cho vay của NHTM là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả ngốc và lãi. Định nghĩa trên được các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác áp dụng để làm tiền đề căn bản cho các hoạt động cho vay của mình. Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật doanh nghiệp của CHDCND Lào thì: “Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 triệu LAK ) (sau đây gọi chung là doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ).1: Tiêu chí xếp loại doanh nghiệp nhỏ và vừa t e qu nh của Cộng hòa dân chủ n nhân dân Lào DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng thu nguồn thu nguồn thu nguồn nhập vốn nhập vốn nhập vốn kinh hu vực Số lao Số lao Số lao kinh kinh doanh động động động doanh doanh hàng hàng hàng năm năm năm 100 400 1 tỷ 2 tỷ kíp 4 tỷ 4 tỷ kíp I.
Sản 1-5 triệu triệu 6-50 kíp trở 51-99 kíp trở xuất người kíp trở kíp trở người trở xuống người trở xuống hàng hóa xuống xuống xuống xuống 150 400 1 tỷ 3 tỷ kíp 4 tỷ 6 tỷ kíp II. 1-5 triệu triệu 6-50 kíp trở 51-99 kíp trở Thương người kíp trở kíp trở người trở xuống người trở xuống mại xuống xuống xuống xuống 200 400 1,5 tỷ 1,5 tỷ 6 tỷ 4 tỷ kíp III. Dịch 1-5 triệu triệu 6-50 kíp kíp trở 51-99 kíp trở vụ người kíp trở kíp trở người trở xuống người trở xuống xuống xuống xuống xuống (Nguồn: Nghị định 25/2017/NĐ-CP, nước CHDCND Lào, 2017) Tại Lào, theo Nghị định 25/2017/NĐ-CP của Chính phủ thì Doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa là doanh nghiệp có số lao động bình quân hàng năm không quá 99 người hoặc tổng giá trị tài sản không quá một trăm hai trăm triệu Kíp hoặc thu nhập kinh doanh hàng năm không quá một tỷ hai trăm nghìn Kíp. Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Cho vay là hoạt động chủ chốt của NHTM tại Việt Nam để tạo ra lợi nhuận.Trong đó, cho vay doanh nghiệp có thể nói là hoạt động quan trọng nhất trong hoạt động của NHTM, vì vậy chúng ta cần nắm rõ về hoạt động này tại NHTM. Có thể hiểu hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa là hình thức cấp tín 6 dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thoả thuận và nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay DNNVVN như sau -C ả v ối với DNNVV t ườ ỏ - L ại ì v ủ ếu l v ắ ạ - ỷ lệ v ủ ếu l ó t i sả bả ả 1. hái niệm thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa Thẩm định cho vay là việc sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
Thẩm định tín dụng là quá trình con người kiểm tra và đánh giá một dự án có độ rủi ro và độ tin cậy như thế nào, có đủ khả năng trả nợ hay chưa, từ đó đưa ra được quyết định sẽ cho dự án được vay hay là không (Lưu Thị Hương, 2009). Thẩm định cho vay là cốt lõi của nghiệp vụ tín dụng, phải được thực hiện nghiêm túc, nhằm đánh giá chính xác về khách hàng, tính khả thi, hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng (Nguyễn Đức Thắng, 2011). Trên cơ sở đó, theo quan điểm của tác giả, thì: "Thẩm định cho vay khách hàng DNNVV là hoạt động các cán bộ thẩm định tại ngân hàng sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một dự án đầu tư hay một phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ mà khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định tín dụng.3 Sự cần thiết phải thầm định cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thƣơng mại Sự cần thiết của thẩm định cho vay khách hàng DNNVV thể bao gồm: + Giúp phân tích, đánh giá được mức độ tin cậy của dự án đầu tư, phương án sản xuất mà doanh nghiệp đã lập và nộp cho NHTM khi làm thủ tục vay vốn. Phân tích và đánh giá được mức độ rủi ro của dự án đầu tư khi quyết định cho vay.
Mục đích của thẩm định cho vay là đánh giá một cách chính xác và trung thực tư cách khách hàng, tình hình tài chính, tính khả thi của PASXKD, DAĐT, khả năng trả nợ 7 của khách hàng để ra quyết định cho vay nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Thẩm định cho vay cho vay khách hàng doanh nghiệp là một trong những khâu rất quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng. + Giúp cho đội ngũ cán bộ tín dụng cũng như lãnh đạo ngân hàng mạnh dạn đưa ra quyết định cho vay và giảm được xác suất rủi ro, sai sót trong quá trình cho vay. Thẩm định cho vay giúp đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay.
Vì vậy đây là một khâu rất quan trọng trong toàn bộ qui trình tín dụng. Giúp cán bộ tín dụng và lãnh đạo có thể mạnh dạn quyết định cho vay và giảm thiểu được hai sai lầm quan trọng trong quyết định cho vay: (1) cho vay đối với khách hàng tồi, (2) từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt. Quy trình và phƣơng pháp thẩm định cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thƣơng mại 1. Phương pháp thẩm định cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các phương pháp thẩm định cho vay như sau: Lựa chọn phương pháp thẩm cho vay là việc làm đầu tiên trong công tác thẩm định cho vay đối với các doanh nghiệp của ngân hàng.
Nếu ngân hàng lựa chọn phương pháp thẩm định không hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của ngân hàng, thì sẽ làm giảm kết quả và chất lượng của công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Ngược lại, nếu một phương pháp thẩm định phù hợp và hợp lý sẽ làm tăng kết quả và hiệu quả của công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn. Hiện nay, các NHTM khi thực hiện thẩm định tín dụng nói chung và cho vay doanh nghiệp nói riêng đều áp dụng nhiều phương pháp thẩm định như: - P ươ p ps s ỉ tiêu: Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của dự án/phương án được so sánh với các dự án/phương án đã và đang xây dựng hoặc đang hoạt động. Sử dụng phương pháp này giúp cho việc đánh giá tính hợp lý và chính xác các chỉ tiêu của dự án.
Từ đó có thể rút ra các kết luận đúng đắn về dự án/phương án sản xuất kinh doanh để đưa ra quyết định đầu tư được chính xác. Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau: 8 - Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình Nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được. - Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế. - Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi.
Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư. - Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý. của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật chính thức hoặc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế. - Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến).
- Các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp theo thông lệ phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo của Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại. - Các chỉ tiêu trong trường hợp có dự án và chưa có dự án. Trong việc sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý, các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự án và doanh nghiệp, tránh khuynh hướng so sánh máy móc cứng nhắc.