Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực lao động cho cán bộ nghiên cứu khoa học Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động cho cán bộ nghiên cứu tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội Chương 3: Giải pháp tạo động lực lao động cho cán bộ nghiên cứu tại Viện Khoa học Lao động và Xã hội 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO CÁN BỘ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Lao động Lao động đƣợc hiểu là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con ngƣời. Có thể hiểu lao động là vận dụng sức mạnh tay chân hoặc trí óc thông qua công cụ lao động để cải tạo nhằm mục đích tinh thần phục vụ con ngƣời.
Động lực “Động lực” là một thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong kinh tế có nhiều cách giải thích về thuật ngữ này, có thể liệt kê một số cách giải thích nhƣ sau: Theo từ điển tiếng Việt: Động lực đƣợc hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Theo nhà nghiên cứu Mitchell, ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Từ những định nghĩa trên ta có thể đƣa ra một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thúc đẩy, khuyến khích động viên con ngƣời thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Động lực lao động Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức.
Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc nâng cao năng suất lao động. Có nhiều những quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhƣng đều có những điểm chung cơ bản nhất. 12 Năm 1993, Stee & Porter khẳng định: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng sự nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức; là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc” Theo Giáo trình Hành vi tổ chức của Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động” [11, tr.
Theo đó, ngƣời lao động luôn có trong mình nhu cầu của bản thân. Ngƣời lao động có xu hƣớng sẽ đƣa ra các hành vi để thỏa mãn nhu cầu đó cũng nhƣ có xu hƣớng nỗ lực thực hiện các hành vi nếu cảm thấy nhu cầu đó có thể đạt đƣợc. Vì vậy, các tổ chức cần tìm hiểu nhu cầu của ngƣời lao động sau đó định hƣớng, chỉnh sửa nếu nhu cầu đó không phù hợp với tổ chức. Làm nhƣ vậy có thể gắn mục tiêu tổ chức với mục tiêu cá nhân, ngƣời lao động sẽ nỗ lực làm việc để đạt đƣợc mục tiêu cá nhân với mục tiêu tổ chức.
Nhƣ vậy, có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động là: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời khao khát, mong muốn làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc những mục tiêu chung của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động. Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động và do các nhân tố bên ngoài tạo ra, là nguồn gốc dẫn đến năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức. Nó không phải là đặc tính cá nhân.
Do vậy, muốn tạo động lực cho ngƣời lao động thì nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trƣờng làm việc, công việc, mối quan hệ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất. Nhu cầu Nhu cầu là sự cần thiết về một cái gì đó. Nhƣng “cái gì đó” chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu. Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất của nhu cầu mà có thể tạm gọi là “nhu cầu”.
Nhu cầu đang nói đến lại có thể đƣợc xem là hình thức biểu hiện cảu một nhu cầu khác căn bản hơn. Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắt xích của hình thức biểu hiện và nhu cầu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa. Lợi ích Trong bài giảng về nhu cầu và lợi ích, phó giáo sƣ Trần Xuân Cầu có nêu “Lợi ích là mức độ thoả mãn nhu cầu của con ngƣời trong điều kiện nhất định”. Lợi ích có thể là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời, lợi ích đạt đƣợc thông qua việc đáp ứng các nhu cầu do thực hiện công việc, khi lợi ích đạt đƣợc càng lớn thì động lực lao động của cá nhân càng lớn.
Cũng giống nhƣ nhu cầu, lợi ích đƣợc chia thành 2 nhóm: lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Nhƣ vậy, có thể thấy nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ và tƣơng hỗ với nhau, lợi ích chính là phƣơng tiện để thỏa mãn nhu cầu. Mỗi cá nhân hành động khi họ xác định đƣợc những nhu cầu và lợi ích đạt đƣợc khi thỏa mãn nhu cầu đó. Nhu cầu của con ngƣời sẽ tạo ra động lực để họ tham gia vào quá trình lao động, song lợi ích đạt đƣợc sẽ là động lực trực tiếp để quá trình đó của họ đạt hiệu quả cao.
Tạo động lực lao động Theo Giáo trình Quản trị nhân lực tập II của PGS.TS Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động cố gắng phấn đấu để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”.145] Nhƣ vậy, thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, tìm ra các biện pháp nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động, qua đó làm tăng thêm lợi ích của họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Các biện pháp đƣợc đặt ra có thể là thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của ngƣời lao động vừa thỏa mãn đƣợc mục đích của doanh nghiệp, sử dụng các biện pháp kích thích về vật chất lẫn tinh thần…, còn cách ứng xử của tổ chức đƣợc 14 thể hiện ở việc tổ chức đó đối xử với ngƣời lao động nhƣ thế nào. Do đó vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu. Nhƣng để đề ra đƣợc những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, của ngƣời lao động, tạo cho ngƣời lao động sự hăng say trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của ngƣời lao động sẽ là gì.
Việc dự đoán và kiểm soát hành động của ngƣời lao động hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Cán bộ nghiên cứu khoa học 1.1 Cán bộ Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, “cán bộ” ở đây đƣợc hiểu theo ý nghĩa là cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, bao gồm các thành phần chủ yếu sau: - Cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ ở cấp Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện. Có tham gia chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ việc hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng về khoa học và công nghệ trong thẩm quyền của mình. Căn cứ vào Luật Viên chức 2010 [12] và Luật Khoa học và công nghệ 2013 [13], có thể đƣa ra khái niệm viên chức khoa học công nghệ nhƣ sau: - Viên chức khoa học, công nghệ là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ độc lập.
Hoạt động khoa học, công nghệ bao gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cƣu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến ky thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Các viên chức khoa học, công nghệ đƣợc tuyển dụng và quản lý theo chế độ hợp đồng làm việc, hƣởng lƣơng từ quỹ lƣơng của các đơn vị này theo quy định cua pháp luật. Viên chức khoa học công nghệ cũng đƣợc tuyển dụng, quản lý và sử dụng nhƣ viên chức hoạt động trong các lĩnh vực chuyên môn khác, hoạt động của họ để phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nƣớc, phục vụ cho nhiệm 15 vụ phát triển mà nhà nƣớc đặt ra, cung cấp các dịch vụ công về khoa học và công nghệ. Nghiên cứu khoa học Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tƣ duy về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tƣ duy đó.
Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện, phát hiện ra mối quan hệ giữa các hiện tƣợng, chuẩn bị cho con ngƣời những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực từ đó giúp con ngƣời áp dụng vào thực tiễn của đời sống và sản xuất. Theo Nguyễn Văn Lê: “Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo ra các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng” [10,tr.12] Nói một cách khái quát thì nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,.