CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.Một số khái niệm cơ bản 1.Động lực Động lực: Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo t điển tiếng Việt (http://tratu.com/dict/vn_vn/) : Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. Theo Mitchell, ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình (Khái niệm này được Mitchell đưa ra trong cuốn sách Multlines, năm 1999 trang 418). Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu.
T những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Động lực làm việc Động: T điển Hán Việt Thiều Chử (trang 55) định nghĩa: “ Động: bất cứ vật gì, có thể do tự sức mình hay do sức khác mà chuyển sang chỗ khác, đều gọi là động” – do đó: Động chính là sự di chuyển, sự thay đổi, không nằm im. Lực: Được dùng để biểu thị tương tác giữa các vật, làm thay đổi trạng thái chuyển động hoặc làm biến đổi hình dạng của các vật. Động lực:Động lực là dùng lực (nội lực hoặc ngoại lực) để thay đổi trạng thái nội tại.
Vậy muốn có động phải có lực tác động. Động lực của con người: 6 - Động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích. - Nền tảng của động lực là các cảm xúc và nhu cầu: - Cảm xúc con người có được do t bên ngoài tác động.
Nó dựa trên sự né tránh cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực (Quan điểm về tích cực hay tiêu cực của mỗi người rất khác nhau và phụ thuộc vào các quy tắc xã hội). - Nhu cầu: chính là động cơ thúc đẩy con người hành động, nó tác động t bên trong của mỗi con người. - Để tạo ra động lực, con người phải biết kích hoạt những cảm xúc mạnh mẽ, tích cực và hướng tới nhu cầu hay một mục tiêu cụ thể. - Theo tác giả Vũ Thị Uyên (2005): Động lực là sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Qua các khái niệm trên, có thể thấy động lực lao động của con người có liên quan tới các thái độ hành vi của cá nhân. Nó bắt nguồn từ các nhu cầu nội tại khác nhau cảu cá nhân và thúc đẩy cá nhân hành động để thảo mãn các nhu cầu này. Động lực có tác động rất lớn đến thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Động lực càng lớn thì kết quả thực hiện công việc càng cao và ngược lại, nó giải thích tại sao những cá nhân có trình độ chuyên môn, năng lực làm việc cao nhưng kết quả công việc lại thấp hơn kỳ vọng của tổ chức bởi người đó không có động lực làm việc, hoặc động lực làm việc yếu.
Chính vì vậy, việc tạo động lực cho người lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo ra kết quả thực hiện công việc cũng như mục tiêu của mỗi cá nhân, tổ chức.3 Tạo động lực làm việc cho người lao động Theo giáo trình “Quản trị nhân lực căn bản” của TS Mai Thanh Lan, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nhàn nhà xuất bản thống kê năm 2016 thì tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu đạt được các 7 mục tiêu của tổ chức. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối xử đối với người lao động như thế nào. Với cách hiểu như trên có thể coi vấn đề tạo động lực lao động chủ yếu là vấn đề thuộc về sự chủ động của tổ chức. Vậy có thể hiểu: Tạo động lực làm việc là một quá trình sử dụng những tác động tới con người làm cho họ phát huy cao nhất mọi nỗ lực cá nhân để đạt được mục tiêu.
Đối với người lao động trong các tổ chức, tạo động lực làm việc là quá trình vận dụng hệ thống các chính sách , biện pháp công cụ để tác động vào người lao động làm cho họ duy trì và phát huy động lực trong công việc , thuc sđẩy họ hài lòng hơn trong công việc mong muốn đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức 1.4 Kích thích vật chất. Kích thích về vật chất là những kích thích về mặt tài chính nhằm thỏa mãn những nhu cầu về vật chất của người lao động. Các biện pháp kích thích vật chất cho người lao động cụ thể thông qua tiền lương, tiền thưởng và hệ thống phúc lợi.5 Kích thích tinh thần. Kích thích về tinh thần là những kích thích phi tài chính nhằm thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần cho người lao động.
Các biện pháp kích thích tinh thần cho người lao động cụ thể như: Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động, tạo sự phát triển cá nhân , phong cách quản lý và giao tiếp với nhân viên của lãnh đạo, văn hóa tổ chức. Các nội dung lý thuyết cơ bản về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 1.Vai trò của tạo động lực làm việc cho người lao động Mặc dù quá trình tạo động lực làm việc không tạo ra kết quả tức thời , đòi hỏi nhiều chi phí về tiền bạc và công việc cũng như phải thực hiện liên tục trong thời gian dài nhưng nếu thực hiện tốt thì đem lại rất nhiều lợi ích , lợi ích không chỉ cho bản thân người lao động mà còn cho cả doanh nghiệp và cho cả xã hội. 8 Động lực lao động giúp các cá nhân có thể thực hiện được mục tiêu, mục đích của mình, đời sống tinh thần của mỗi người sẽ trở nên phong phú hơn, t đó hình thành nên những giá trị mới cho xã hội. Các thành viên của xã hội được phát triển toàn diện và có cuộc sống hạnh phúc hơn khi các nhu cầu của họ được thoả mãn.Đối với người lao động Tạo động lực làm việc là yếu tố thúc đẩy con người làm việc hăng say tích cực , có nhiều sáng kiến qua đó nâng cao được chất lượng công việc, tăng năng suất lao động và nhờ đó thu nhập của họ được tăng lên.
Thư nhập tăng thì người lao động có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu của mình. Quá trình tạo động lực làm việc giúp người lao động hiểu và yêu công việc của mình hơn. Động lực làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của người lao động.Đối với doanh nghiệp Người lao động có động lực làm việc là điều kiện để doanh nghiệp nâng cao công suất lao động, hoàn thành các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh. Quá trình tạo động lực làm việc cho người lao động giúp doanh nghiệp có một đội ngũ lao động giỏi, trung thành nhiều phát minh sáng kiến nhờ đó mà hiệu quả công việc của doanh nghiệp tăng lên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao.
Tạo động lực làm việc cho người lao động góp phần nâng cao uy tín , làm đẹp hình ảnh của doanh nghiệp nhờ đó thu hút nhiều lao động giỏi về doanh nghiệp. Cải thiện mối quan hệ giữa người lao động với người lao động, giữa người lao động với doanh nghiệp, góp phần xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh tốt đẹp. Trong một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là bộ phận quan trọng không thể thiếu nên động lực làm việc của người lao động đóng vai trò quyết định sức mạnh của tổ chức. 9 Vai trò của tạo động lực làm viêc đối với người lao động và doanh nghiệp Năng suất lao Thu nhập của động tăng NLĐ cải thiện Tạo động lực NLĐ làm làm việc tốt việc tích cực NLĐ hài lòng với công việc Cải thiện mối quan hệ NLĐ - DN Thu hút, giữ chân lao động 1.Đối với xã hội Tạo động lực làm việc tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế tạo động lực làm việc là điều kiện để tăng năng suất lao động của cá nhân cũng như của doanh nghiệp.
mà năng suất lao động tăng làm cho của cải vật chất tạo ra cho xã hội ngày càng nhiều và do vậy nền kinh tế có sự tăng trưởng. Tăng trưởng kinh tế lại là điều kiện cần cho sự phát triển kinh tế , giúp con người có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu của mình ngày càng đa dạng, phong phú. Vì vậy tạo động lực làm việc gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh hơn dựa trên sự phát triển của các tổ chức kinh doanh. Tạo động lực thể hiện sự thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu của con người, đảm bảo cho họ hạnh phúc, phát triển toàn diện, nhờ vậy mà thúc đẩy xã hội đi lên góp phần phát triển nền kinh tế đất nước.Các học thuyết tạo động lực 1.1 Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow Thuyết phân cấp nhu cầu do Abraham Maslow xây dựng.
Maslow chủ yếu quan tâm tới ý nghĩa và tầm quan trọng trong công việc của con người. Theo Maslow, nhu cầu của con người có thể được phân thành những cấp độ nhu cầu khác biệt cơ bản và tăng dần về tầm quan trọng là: Nhu cầu sinh học; Nhu cầu an toàn; Nhu cầu xã hội; Nhu cầu được tôn trọng; Nhu cầu tự khẳng định.