CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Lý luận chung về động lực và tạo động lực làm việc 1. Động lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực: Theo tác giả Harold Koontz “Động lực là những yếu tố thúc đẩy con người thực hiện công việc; trong khi động cơ thúc đẩy phản ánh sự mong muốn, chúng là những phần thưởng, hoặc sự khuyến khích nhất định làm tăng những nỗ lực để thỏa mãn những mong muốn đó. Các động lực là những phương tiện mà nhờ chúng các nhu cầu mâu thuẫn nhau có thể được điều hòa hoặc một nhu cầu được đề cao hơn để sao cho chúng sẽ được ưu tiên hơn các nhu cầu khác” [9, tr.
Thuật ngữ động lực được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân (Maier và Lawder, 1973); động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định (Kreitner, 1995); động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu (Bedian, 1993); động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994). Thuật ngữ động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó [5, tr. Động lực làm việc “Động lực làm việc” có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng về bản chất luôn mang nội hàm đó là những gì kích thích con người hành động để đạt tới một mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động được đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ.
Động lực là yếu tố thúc đẩy hành động, gắn liền với sự thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể. 9 Luan van Theo tác giả Chiristal Batal, “Động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi. Từ định nghĩa này, có thể hiểu động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động, vì thế nó có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi con người” [2, tr. “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [24, tr. Từ các khái niệm trên, hiểu chung nhất, động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc gắn với cá nhân, nằm bên trong cá nhân, do đó, chủ thể quản lý chỉ gia tăng được động lực làm việc của họ khi tác động đúng tới các yếu tố nội tại của người lao động. Bản chất của động lực làm việc Động lực làm việc luôn gắn với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể.
Vì vậy, khi xây dựng một chương trình tạo động lực cho nhân viên của mình, nhà quản lý phải hiểu rõ về công việc, môi trường làm việc cũng như mối quan hệ của họ với tổ chức. Động lực làm việc không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân của người lao động. Vì vậy, nhà quản lý có thể chủ động đưa ra các biện pháp tạo động lực cho nhân viên của mình. Động lực của người lao động luôn mang tính tự nguyện.
Điều này thể hiện sự khác biệt so với hành vi lao động hết mình do người lao động đã phải chịu một sức ép nào đó từ phía tổ chức. Có thể nói động lực lao động sẽ dẫn đến hiệu quả làm việc của cá nhân trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tuy nhiên, người lao động không có động lực vẫn có thể hoàn thành tốt công việc nhưng kết quả đó sẽ là không bền vững, không tạo được sự gắn bó lâu dài với tổ chức. Phân loại động lực làm việc Trong khu vực công, việc phân loại động lực làm việc dựa vào hai yếu tố, đó là: phân loại dựa vào phạm vi hình thành động lực và phân loại dựa vào nguyên nhân hình thành động lực [23].
Phân loại dựa vào phạm vi hình thành động lực Động lực làm việc bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài. - Động lực bên trong: Là động lực xuất phát từ sự khao khát được thỏa mãn các nhu cầu bên trong của từng cá nhân người lao động. - Động lực bên ngoài: Liên quan đến các yếu tố tác động bên ngoài của tổ chức và người lãnh đạo, như mức độ thỏa mãn công việc hay khả năng đáp ứng nhu cầu của người lao động về lương bổng, đãi ngộ, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, cách đối xử của người lãnh đạo, tính hấp dẫn, độc đáo, hữu ích, bao gồm các yếu tố nội dung công việc. Động lực càng mạnh thì sự hăng hái, nhiệt tình và trách nhiệm đối với công việc càng cao, càng giúp người lao động vươn tới sự quyết tâm để đạt được mục tiêu với năng suất và hiệu quả cao trong công việc.
Vì thế trong quản trị con người, nhà quản trị phải không ngừng tìm cách tạo và gia tăng động lực làm việc. Phân loại dựa vào nguyên nhân hình thành động lực - Động lực hợp lý: Động lực hợp lý thúc đẩy các hành động dựa trên cơ sở tối đa hóa lợi ích cá nhân. Loại động lực này lôi cuốn người lao động tham gia vào khu vực công, thúc đẩy cơ hội tham gia xây dựng chính sách công. Người lao động cảm thấy bị lôi cuốn vào quá trình ban hành chính sách công bởi điều này làm gia tăng vai trò quan trọng của cá nhân họ.
Do đó, chỉ có khu vực công, nhất là ở các cơ quan sử dụng quyền lực nhà nước mới thể hiện đặc thù của loại động lực này. Loại động lực này có thể biểu hiện trên các khía cạnh: mong muốn đóng góp nâng cao chất lượng dịch vụ công; hài lòng khi mọi người có được lợi ích từ các chương trình của Nhà nước mà bản thân tham gia thực hiện; thích bàn luận về các chủ đề liên quan đến các chương trình và chính sách của Nhà nước với những người khác; khâm phục những người khởi xướng hoặc tham gia vào các hoạt động giúp đỡ 11 Luan van cộng đồng; coi trọng việc tham gia vào các hoạt động giải quyết các vấn đề xã hội. - Động lực dựa trên chuẩn mực: Động lực dựa trên chuẩn mực hướng tới các hành động cố gắng đạt tới những chuẩn mực nhất định trong tổ chức. Một trong những nền tảng chuẩn mực của khu vực công là cam kết phục vụ lợi ích công.
Do đó, mong muốn phục vụ lợi ích công là một trong những giá trị không thể thiếu của động lực làm việc trong khu vực công. Ngoài ra, chuẩn mực nền tảng trong khu vực công còn liên quan đến đạo đức hay sự cảm nhận về bổn phận công dân. Chuẩn mực này xuất phát từ nguồn gốc quyền lực nhà nước của những người làm việc trong khu vực công. Loại động lực này dẫn tới những cam kết thực hiện nghiêm túc và trách nhiệm đối với các giá trị trong khu vực công.
- Động lực cảm xúc: Động lực cảm xúc dẫn tới những hành vi trên cơ sở những phản ứng mang tính cảm xúc trong những bối cảnh xã hội khác nhau. Loại động lực này dựa trên tình cảm yêu thương giữa người với người. Tình cảm đó khiến người làm việc trong khu vực công phải hành động dựa trên cơ sở pháp luật, bảo đảm quyền công dân trong khuôn khổ quyền và trách nhiệm, ứng xử khách quan và công bằng với các đối tượng được phục vụ. Một số biểu hiện của loại động lực cảm xúc này như: cảm thông với những hoàn cảnh không may mắn, không vui khi thấy người khác bị đối xử không công bằng, quan tâm đến lợi ích của người khác.
- Động lực hy sinh: Động lực hy sinh dẫn đến những hành động đặt lợi ích chung lên trên lợi ích của chính bản thân người làm việc. Đây là động cơ dẫn tới sự sẵn sàng nhường cho người khác lợi ích của bản thân. Lời kêu gọi của Tổng thống Mỹ Kenedy: “Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho ta mà phải hỏi ta đã làm gì cho đất nước” là một ví dụ điển hình cho động lực hy sinh. Một số biểu hiện của loại động lực này như: sẵn sàng hy sinh cho sự tốt đẹp của xã hội, sẵn sàng chấp nhận mất mát cá nhân do rủi ro để giúp đỡ xã hội; cảm thấy dễ chịu khi được phục vụ nhân dân kể cả khi không được trả tiền.
Các lý thuyết về động lực làm việc Trên thế giới có rất nhiều các học thuyết và lý thuyết khác nhau về động lực 12 Luan van làm việc, có thể kể đến các học thuyết tiêu biểu sau: 1. Học thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow Abraham Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: Nhu cầu sinh lý (tồn tại): Nhu cầu về thức ăn, nước uống, chỗ ở và các nhu cầu cơ thể khác. Hiểu một cách cơ bản nhất thì nhu cầu tồn tại có ý nghĩa là người lao động được đáp ứng những yêu cầu cơ bản để tái tạo sức lao động, bảo đảm sức khỏe để làm việc.
Nhu cầu này thường gắn với lương và thu nhập. Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu được ổn định, chắc chắn được bảo vệ khỏi các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ. Khi người lao động tham gia vào một tổ chức thì điều đầu tiên họ quan tâm là môi trường làm việc của tổ chức đó có được ổn định hay không, quá trình lao động có bảo đảm an toàn hay không, điều kiện làm việc như thế nào, có thường xuyên xảy ra tai nạn lao động không… Thực tế cho thấy, sự an toàn không chỉ liên quan đế vấn đề an toàn lao động mà còn liên quan đến sự an toàn về tinh thần.