phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 5 chương với các nội dung sau: Chƣơng 1: Giới thiệu Chƣơng 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận: Tình hình nghiên cứu cùng lĩnh vực và Cơ sở lý luận về tín dụng ngân hàng và các nhân tố tác động tới tăng trưởng tín dụng ngân hàng. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu: Các bước nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu thực hiện trong bài. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu: Thực trạng tăng trưởng tín dụng hệ thống NHTM tại Việt Nam và đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng giai đoạn 2008-2019 và kết quả Mô hình ước lượng ảnh hưởng các nhân tố tới tăng trưởng tín dụng hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2019. Chƣơng 5: Các khuyến nghị chính sách đối với tăng trƣởng tín dụng.
Kết luận 13 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Tăng trưởng tín dụng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến TTTD của các NHTM luôn nhận được những quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước do vai trò đặc biệt của nó đối với nền kinh tế của các quốc gia. Các nhân tố tác động đến TTTD được các nhà nghiên cứu xem xét dưới hai giác độ: từ phía cung và từ phía cầu tín dụng 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài Tăng trưởng tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến nó được nghiên cứu ở cả các quốc gia phát triển, mới nổi, đang phát triển.
Các nghiên cứu đáng chú ý nhất gần đây trên thế giới về đề tài này có thể kể đến là các nghiên cứu của Hoffman (2001), Calza et al.Những nghiên cứu này đa phần sử dụng các tiếp cận VAR với các dữ liệu sử dụng như sản lượng thực tế, lãi suất, vốn của các ngân hàng, tỷ giá, thâm hụt ngân sách, tỷ lệ thanh khoản,. khi đánh giá các nhân tố ảnh hường đến tăng trưởng tín dụng của các NHTM. Theo nghiên cứu của Hoffman (2001) khi sử dụng mô hình VAR cho 16 quốc gia phát triển đã thể hiện mối quan hệ thuận chiều giữa TTTD, tăng trưởng GDP và lạm phát; và mối quan hệ nghịch giữa TTTD và lãi suất thực. Cũng ra kết quả tương tự, Calza et al.
(2001) khi nghiên cứu về các quốc gia châu Âu với việc sử dụng mô hình VECM cho thấy mối quan hệ thuận trong dài hạn giữa TTTD và GDP thực tế và mối quan hệ ngược chiều trong ngắn hạn và dài hạn giữa TTTD và lãi suất. Nghiên cứu của Leonardo Gambacorta và Paolo Emilio Mistrulli năm 2003 “Bank capital and lending behavior: empirical evidence for Italy” đã thể hiện những thay đổi trong hoạt động cho vay của các ngân hàng trước sự thay đổi của CSTT và sản lượng của nền kinh tế, có xem xét đến sự khác biệt về vốn giữa các ngân hàng. 14 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Quý 3 năm 1992 đến quý 3 năm 2001 của hệ thống ngân hàng Italia và nền kinh tế nước này để kiểm định. Mô hình thực nghiệm được xây dựng dựa trên mô hình của Kashyap và Stein (1995), để đo lường xem liệu các ngân hàng có mức độ vốn khác nhau thì khối lượng tín dụng có biến đổi khác nhau hay không trước cú sốc tiền tệ hoặc sản lượng.
Mô hình đã chỉ ra TTTD của các ngân hàng tại Italia chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chính như: mức vốn dư thừa, chỉ số chính sách tiền tệ, chi phí tài sản, lạm phát, GDP thực tế. Trong đó, mức vốn dư thừa, lạm phát và GDP thực tế có mối quan hệ thuận chiều với TTTD ở các ngân hàng. Kết quả của nghiên cứu cho rằng: các ngân hàng có lượng vốn dư thừa càng nhiều thì khi có sự thay đổi về yêu cầu vốn khả năng bị xáo trộn càng ít và mở rộng tín dụng càng cao. Kết quả tương tự với GDP thực tế và làm phát: GDP thực tế tăng thêm 1% thì sẽ thúc đẩy tín dụng tăng thêm 0.
Bên cạnh đó, chỉ số CSTT và chi phí tài sản là những nhân tố được chỉ ra sẽ làm giảm TTTD ở các ngân hàng. Khi thắt chặt CSTT có tác động làm thu hẹp tín dụng ngân hàng: 1% tăng thêm của các chỉ số CSTT sẽ dẫn đến tín dụng của các ngân hàng giảm trung bình 1,2%. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng có mức vốn hóa lớn sẽ đối phó tốt hơn với các cú sốc của CSTT nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Nghiên cứu của hai tác giả Burcu Aydın và Deniz Igan (2010) đã phân tích tác động của CSTT và tài khóa đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng tại Thổ Nhĩ Kỳ cho khu vực tư nhân trong giai đoạn hậu khủng hoảng (2000-2001).
Thông qua kết quả định lượng, nghiên cứu đã cho thấy CSTT của NHTW có nhiều tác động trực tiếp đến tín dụng trung và dài hạn của các ngân hàng trong nước đối với khu vực tư nhân trong khí đó tác động rất ít tới tín dụng bằng ngoại tệ. Khi sử dụng CSTT thắt chặt, tín dụng ngắn hạn sẽ tăng lên do các khoản cho vay ngắn hạn ít có sai lệch về kỳ hạn, kết quả tương tự với tín dụng trung hạn. Nghiên cứu cũng chỉ ra khi CSTT thắt chặt, các ngân hàng có khả năng thanh khoản yếu hơn sẽ thu hẹp TTTD nhiều hơn so với các ngân hàng có tính thanh khoản tốt. 15 Nhóm tác giả Ivo Arnold, Clemens Kool và Katharina Raabe (2011) công bố nghiên cứu “Industry effect of banking lending in Germany” về các nhân tố ảnh hưởng đến TTTD của các ngân hàng đối với 8 lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế và vai trò của các ngân hàng khi là kênh truyền tải CSTT ở Đức.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý giai đoạn 1992-2002 của các ngân hàng tại Đức khi định lượng các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của các ngân hàng Đức với các lĩnh vực: Năng lượng, chế tạo, xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ, thương mại, giao thông (bao gồm cả viễn thông) và tài chính. Kết quả của mô hình đã chỉ ra các kết quả trái ngược giữa TTTD với tăng trưởng sản lượng trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực xây dựng, thương mại và dịch vụ, khi tăng trưởng sản lượng thì sẽ làm tăng nhu cầu đi vay cũng như khối lượng tín dụng đối với nhóm ngành nghề này. Trong khi đó, chế tạo và tài chính là những lĩnh vực mà tăng trưởng sản lượng ở nhóm này không làm gia tăng tín dụng đáng kể trong những ngành này.
Thông qua nghiên cứu, có thể thấy TTTD của các ngân hàng chủ yếu phụ thuộc vào thành phần của các lĩnh vực có trong danh mục cho vay của ngân hàng cũng như những biến động mang tính chu kỳ cơ bản của nhu cầu tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực này. Ngoài ra, trước những thay đổi của CSTT, sự thay đổi trong hoạt động cho vay của ngân hàng phụ thuộc vào tài sản, tính thanh khoản mà không phụ thuộc vào vốn của các ngân hàng cũng như các khoản tiền gửi liên ngân hàng. Cũng trong năm 2011, tác giả Felicia Omowunmi Olokoyo đã nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại tại Nigeria thông qua sản phẩm “Determinants of Commercial Banks‟ Lending Behavior in Nigeria”. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu đến từ 89 ngân hàng trong giai đoạn 1980-2005 với mô hình VAR để định lượng tác động của các biến số vi mô cũng như vĩ mô tới hoạt động tín dụng của các NHTM tại Nigeria.
Các biến số vi mô được đưa ra gồm khối lượng tiền gửi, danh mục đầu tư, lãi suất, dự trữ tiền mặt bắt buộc, tỷ lệ thanh khoản. Các biến số vĩ mô trong nghiên cứu là GDP và tỷ giá. Các yếu tố khác là công cụ chính sách điều tiết hoạt động ngân hàng và mối quan hệ trước với khách hàng được đưa vào phần sai số của mô hình. Kết quả của nghiên 16 cứu đưa ra các nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng tại Nigeria là khối lượng tiền gửi và danh mục đầu tư.
Khi tăng 1% khối lượng tiền gửi và mức độ đầu tư trong danh mục cho vay sẽ dẫn đến 6,8% đối với các khoản cho vay và 3,18% đối với các khoản ứng trước. Hai biến số vĩ mô là GDP và tỷ giá cũng có mối quan hệ thuận chiều với khối lượng tín dụng nghĩa là khi GDP và tỷ giá tăng lên sẽ làm cho các ngân hàng tăng cho vay nền kinh tế. Mặc dù về lý thuyết các nhân tố lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thanh khoản tăng sẽ làm giảm khối lượng tín dụng nhưng mô hình lại cho ra kết quả ngược lại: mỗi 1% tăng của lãi suất cho vay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thanh khoản tiền mặt của các ngân hàng thương mại sẽ làm cho khối lượng tín dụng tăng 0,9%; 0,12% và 0,04% tương ứng. Hiện tượng này được lý giải là do các ngân hàng chiếm thị phần áp đảo tại thị trường tín dụng của Nigeria, và thêm vào đó với mối quan hệ lâu năm giữa ngân hàng và các khách hàng làm cho khách hàng bỏ qua việc tăng chi phí khi lãi suất cho vay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thanh khoản tăng.
Guo, Kai và Stepanyan, Vahram (2011) cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng tín dụng của các NHTM tại 38 nước có nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 2001-2010 (từ Quý 1 năm 2001 đến Quý 2 năm 2010). Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về các yếu tố bên cung tín dụng. Kết quả của nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng tiền gửi, tốc độ tăng trưởng GDP trong quá khứ, tốc độ gia tăng nợ có tác động cùng chiều với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Hơn thế nữa, nhóm tác giả cũng đã tìm ra nhân tố ảnh hưởng chặt chẽ và ngược chiều với tốc độ tăng trưởng tín dụng, đó là tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu gia tăng sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng, nhất là khả năng cung ứng tín dụng và các quyết định cho vay của các ngân hàng. Khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng tăng, các ngân hàng sẽ thận trọng hơn với hoạt động cho vay của mình, vì nếu quản lý không tốt thì sẽ gây thiệt hại cho ngân hàng.