Chương I bắt đầu với việc giới thiệu về chủ đề này, bao gồm cả các mục tiêu, kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu đến các tài liệu hiện hành. Trong chương II, tác giả giới thiệu khuôn khổ lý thuyết hiện có và nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến nghiên cứu của tác giả. Phần này tập trung chủ yếu vào thị trường tài chính bất thường và giới thiệu tăng trưởng tài sản sử dụng trong nghiên cứu này. Chương III trình bày các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết, sẽ được kiểm định trong nghiên cứu.
Giới thiệu các phương pháp và dữ liệu, mà sẽ được sử dụng trong các kiểm định. Trong chương IV tác giả sẽ phân tích và thảo luận các kết quả thực nghiệm. Cuối cùng chương V tác giả sẽ tóm tắt các kết luận của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Phần này tóm tắt tổng quan một số các nghiên cứu trước đây.
Đầu tiên tác giả sẽ mô tả ngắn gọn các khung lý thuyết cơ bản của giả thuyết thị trường hiệu quả, mô tả các bất thường được thảo luận nhiều nhất và các nghiên cứu có liên quan trong lĩnh vực này. Phần thứ hai mô tả các quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tăng trưởng và suất sinh lợi chứng khoán đã được nghiên cứu. Phần thứ ba thảo luận về những nghiên cứu sử dụng một thước đo rộng hơn của tăng trưởng tài sản, mà cũng được áp dụng cho nghiên cứu này. Phần thứ tư cung cấp lời giải thích lý thuyết tiềm năng cho sự tăng trưởng tài sản bất thường thường xuyên sử dụng và kiểm định trong phần này.
Các giả thuyết thị trường hiệu quả và mô hình định giá tài sản vốn Giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH) đã được các học giả tranh cãi nhiều nhất và nghiên cứu kể từ khi được giới thiệu vào năm 1960 bởi Eugen Fama (1965). Giả thuyết thị trường hiệu quả bao gồm ba hình thức khác nhau: - Thị trường hiệu quả dạng mạnh ngụ ý rằng tất cả các thông tin trên thị trường là được phản ánh hoàn toàn vào giá chứng khoán và do đó thông tin nội bộ không có giá trị trên thị trường và thực sự theo định nghĩa không tồn tại. - Thị trường hiệu quả dạng vừa ngụ ý rằng tất cả các thông tin công bố công khai được phản ánh hoàn toàn vào giá chứng khoán và như vậy phân tích cơ bản không có giá trị. - Thị trường hiệu quả dạng yếu có nghĩa là tất cả các giá cả thị trường trong quá khứ và dữ liệu được phản ánh đầy đủ trong giá chứng khoán và do đó phân tích kỹ thuật có rất ít hoặc không có giá trị.
Như có thể thấy từ định nghĩa của các hình thức hiệu quả khác nhau, sự khác biệt chính trong các hình thức là làm thế nào giá cả phản ánh mức độ khác nhau của thông tin. Hàm ý chính từ sự minh bạch của thông tin là những loại phân tích nào sẽ có lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cho các nhà đầu tư để kiếm được suất sinh lợi vượt trội trên thị trường. Khi xem xét hình thức yếu nhất của giả thuyết thị trường hiệu quả, giá cổ phiếu trong tương lai không thể dự đoán bằng cách phân tích hành vi giá hay hiệu suất trong quá khứ. Điều này cho thấy nhà đầu tư không có khả năng có được lợi nhuận một cách hệ thống từ sự thiếu hiệu quả, mặc dù theo phân tích cơ bản suất sinh lợi vượt trội không hệ thống là có thể có được trong ngắn hạn.
Vai trò ngụ ý của phân tích và các ưu đãi cho các nhà đầu tư để thực hiện các hình thức phân tích khác nhau là những câu hỏi quan trọng cho ngành tài chính, do đó vẫn còn truyền cảm hứng cho các nghiên cứu trong lĩnh vực này với các giả thuyết khác nhau. Mặc dù giả thuyết thị trường hiệu quả mô tả khuôn khổ cơ bản và cấu trúc của thị trường tài chính, tự nó không cung cấp một công cụ cho việc định giá tài sản trên thị trường. Sự ra đời của lý thuyết định giá tài sản được đánh dấu bằng một trong các lý thuyết nổi bật nhất cho đến nay, mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) của Sharpe (1964) và Lintner (1965) và Black (1972), được xây dựng trên những giả định của lý thuyết thị trường hiệu quả. CAPM mô tả một mối tương quan dương giữa suất sinh lợi kỳ vọng và các yếu tố beta của chứng khoán, mà theo ý tưởng của mô hình beta phản ảnh tất cả rủi ro trong suất sinh lợi kỳ vọng.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu ra đời sau mô hình CAPM đã ghi nhận rằng các beta không có khả năng phản ảnh tất cả các rủi ro. Mặt khác các cuộc tranh luận về sự phù hợp của mô hình CAPM bị lu mờ bởi thực tế là mô hình này khó có thể kiểm tra được do những khó khăn trong việc xác định danh mục đầu tư thị trường. Trong một bài báo chống lại lập luận định giá rủi ro hệ thống của CAPM, Lehmann (1990) tìm thấy bằng chứng về việc định giá rủi ro phi hệ thống. Nhưng Ang và cộng sự (2006) thấy rằng cổ phiếu có rủi ro phi hệ thống cao kiếm được suất sinh lợi kỳ vọng thấp.
Fu (2009) sử dụng một mô hình GARCH mũ để ước lượng biến động phi hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thống dự kiến, và tìm thấy một mối tương quan dương giữa các thước đo của mình và suất sinh lợi trong tương lai. Trong một xu hướng nghiên cứu riêng biệt, Petkova (2006) cho thấy một mô hình kết hợp các yếu tố vĩ mô và các yếu tố chi phối trong mô hình Fama và French (1993), trong đó chỉ có tải trọng trên các yếu tố vĩ mô được định giá. Phương pháp khai thác yếu tố của Zhang (2009) được lấy cảm hứng từ Connor và Korajczyk (1988, 1993) nhưng cái nhìn sâu sắc của ông là sử dụng phân tích thành phần chủ yếu sắp xếp danh mục đầu tư theo quy mô và tỷ lệ sổ sách/thị trường trái ngược với các chứng khoán riêng lẻ, với lý do nếu quy mô và tỷ số sổ sách/thị trường thực sự nắm bắt được yếu tố rủi ro, theo nghiên cứu của Fama và French (1993) thì đây sẽ rõ ràng hơn trong các thành phần chính lấy từ danh mục đầu tư sắp xếp theo quy mô và tỷ số sổ sách trên thị trường. Trong nghiên cứu của Jagannathan và Wang (1996) lập luận rằng khi suất sinh lợi từ thu nhập lao động được bao gồm trong tổng suất sinh lợi trên danh mục đầu tư thị trường, một mô hình CAPM có điều kiện (trong đó beta thay đổi theo chu kỳ kinh doanh) hoạt động tốt trong việc mô tả dữ liệu.
Campbell và Vuolteenaho (2004) lập luận rằng beta có thể được chia thành hai phần: một do phương sai với dòng tiền, và một do phương sai với tỉ suất chiết khấu. Sử dụng như công cụ kiểm tra, hai bộ danh mục đầu tư được sắp xếp theo quy mô và sổ sách/thị trường, họ thấy rằng các thành phần trước đây là một mà được định giá của suất sinh lợi cổ phiếu. Brennan và cộng sự (2004) kiểm định mô hình CAPM liên thời gian của Merton (1973) bằng cách chỉ ra 2 biến điều kiện: lãi suất thực ngẫu nhiên và tỷ số Sharpe tối đa ngẫu nhiên (độ dốc của đường thị trường vốn) mô tả các suất sinh lợi kỳ vọng của tất cả các tài sản trong trạng thái cân bằng. Họ ước tính các ngũ phân vị (và các beta liên quan) và cho thấy rằng mô hình hoạt động tốt trong việc giải thích sự thay đổi của suất TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 sinh lợi trong 25 danh mục được sắp xếp theo quy mô và tỷ lệ sổ sách/thị trường được sử dụng bởi Fama và French (1993).
Trên thực tế, mô hình của họ có sai số định giá thấp hơn so với mô hình ba nhân tố Fama và French (1993). Da (2009) cho thấy rằng suất sinh lợi kỳ vọng của một tài sản phát sinh từ hai đặc điểm của dòng tiền, cụ thể là các beta với mức tiêu thụ tổng hợp, và thời gian đáo hạn (thời gian mẫu) của dòng tiền. Ông đã cho thấy rằng mô hình giải thích hơn 80% sự thay đổi trong suất sinh lợi danh mục đầu tư Fama và French (1993). Brennan và cộng sự (2009) lập luận rằng khi các nhà quản lý được đánh giá đối với một số tiêu chuẩn và họ là những nhà đầu tư biên, tài sản thay đổi đáng kể với các thành phần của tiêu chuẩn không tương quan với các danh mục đầu tư thị trường sẽ kiếm được suất sinh lợi kỳ vọng thấp.
Sử dụng chỉ số giá trị trong CRSP như các đại diện thị trường và chỉ số S&P 500 là chuẩn, họ tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ cho giả thuyết của họ. Gomez và Zapatero (2003) cũng tìm thấy bằng chứng về mô hình chuẩn. Việc CAPM tiêu dùng (trong đó suất sinh lợi kỳ vọng có liên quan đến hiệp phương sai của suất sinh lợi chứng khoán với tốc độ tăng trưởng tiêu thụ tổng hợp) của Breeden (1979) gần đây đã tạo ra lợi ích. Mô hình này tìm thấy sự hỗ trợ yếu trong nghiên cứu của Breeden và cộng sự (1989).
Parker và Julliard (2005) dẫn chứng đo lường rủi ro tiêu dùng bằng hiệp phương sai giữa suất sinh lợi và tăng trưởng tiêu dùng tích lũy qua nhiều quý hỗ trợ CAPM tiêu dùng. Santos và Veronesi (2006) cho thấy rằng mô hình CAPM có điều kiện với thu nhập lao động và tỷ lệ tiêu thụ như là một biến điều kiện là một mô tả hữu ích của suất sinh lợi kỳ vọng. Sự thay đổi tiêu dùng với suất sinh lợi cổ phiếu chỉ trong chừng mực nó được tài trợ bởi thu nhập không phải từ lao động (thị trường chứng khoán). Vì vậy, phần bù rủi ro phụ thuộc vào phần tiêu dùng tài trợ bởi thu nhập lao động.
Jacobs và Wang (2004) chỉ ra rủi ro tiêu dùng phi hệ thống như là một yếu tố rủi ro giá. Lettau và Ludvigson (2001) lập luận rằng trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 đó có tỷ lệ tiêu thụ tài sản như là một đại diện cho những kỳ vọng trong tương lai cải thiện hiệu suất của CAPM tiêu dùng. Ý tưởng là tỷ lệ này nắm bắt suất sinh lợi chứng khoán kỳ vọng trong tương lai. Malloy và cộng sự (2005) cũng như Bansal và cộng sự (2006) chỉ ra rủi ro tiêu dùng dài hạn (beta tiêu dùng tại khoảng thời gian bốn năm hoặc hơn) như được phản ánh trong các mặt của suất sinh lợi .